BS. Nguyễn Lương Quang -
1. Giới thiệu
Thuốc chống đông đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), thuyên tắc phổi (PE), rung nhĩ, thay van tim và các tình trạng có nguy cơ huyết khối cao. Trong giai đoạn chu phẫu, việc duy trì cân bằng giữa nguy cơ chảy máu và huyết khối là thách thức lớn, đòi hỏi bác sĩ phải đánh giá chính xác nguy cơ, hiểu rõ đặc tính từng thuốc và áp dụng phác đồ phù hợp.
Quản lý chống đông chu phẫu không chỉ giúp giảm biến chứng mà còn cải thiện kết cục bệnh nhân, đặc biệt ở phẫu thuật tim mạch, chỉnh hình, tiêu hóa, niệu khoa và can thiệp ít xâm lấn.
2. Phân loại thuốc chống đông thường gặp
2.1. Thuốc kháng vitamin K (VKA)
KVK là thuốc phổ biến nhất. Tác dụng dựa trên ức chế tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K (II, VII, IX, X).
Ưu điểm: kiểm soát bằng INR, có thuốc đảo ngược (vitamin K, PCC).
Nhược điểm: thời gian bán hủy dài (36–42 giờ), nhiều tương tác thuốc-thực phẩm.
2.2. Heparin không phân đoạn (UFH)
Tác dụng nhanh, thời gian bán hủy ngắn (1–2 giờ), dễ kiểm soát bằng aPTT.
Thích hợp cho bệnh nhân nguy cơ chảy máu cao hoặc cần thủ thuật cấp cứu.
2.3. Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH)
Ví dụ: Enoxaparin, Dalteparin…
Dễ dùng, dự đoán được dược động học.
Không cần theo dõi thường quy trừ bệnh nhân suy thận, béo phì hoặc thai kỳ.
- 16/03/2026 09:42 - Những thông điệp đáng ghi nhớ trong điều trị rối l…
- 10/03/2026 09:23 - Cập nhật Hướng dẫn AUA/CUA/SUFU 2025 về Nhiễm trùn…
- 06/03/2026 11:25 - Gãy mỏm vẹt
- 04/03/2026 08:01 - Vi nấm Candida Auris
- 28/02/2026 10:00 - Chống đông ở bệnh nhân đang chạy ECMO
- 25/02/2026 18:01 - Dinh dưỡng cá nhân hóa trong bệnh thận mạn tính
- 23/02/2026 15:15 - Gãy xương hở
- 23/02/2026 15:07 - Dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư
- 06/02/2026 16:15 - Điện di protein huyết thanh
- 06/02/2026 16:00 - Rút ống nội khí quản
