• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

So sánh hiệu quả của Allopurinol và Febuxastat trong quản lý bệnh gút

  • PDF.

Bs Đặng Thị Quỳnh Chi - 

1. TÓM TẮT

1.1. Cơ sở: Mối liên quan giữa hiệu quả và độ an toàn của allopurinol và febuxostat khi sử dụng theo các hướng dẫn hiện hành về điều trị tăng acid uric máu vẫn chưa được biết rõ. Thử nghiệm mù đôi không so sánh kém hơn đã xem xét những vấn đề này.

1.2. Phương pháp nghiên cứu: Người tham gia mắc bệnh gút và tăng acid uric máu (ít nhất 33% có giai đoạn 3 bệnh thận mãn tính) được chỉ định ngẫu nhiên sử dụng allopurinol hoặc febuxostat trong thử nghiệm kéo dài 72 tuần, với liều dùng được điều chỉnh để đạt mục tiêu urat huyết thanh. Thử nghiệm có ba giai đoạn: điều chỉnh liều thuốc (tuần 0 đến 24), duy trì (tuần 25 đến 48) và quan sát (tuần 49 đến 72). Allopurinol và febuxostat được bắt đầu với liều hàng ngày lần lượt là 100 và 40 mg, với sự điều chỉnh liều thuốc tối đa lần lượt là 800 và 120 mg. Kháng viêm dự phòng được chỉ định trong suốt giai đoạn 1 và 2. Điểm kết thúc chính là tỷ lệ bệnh nhân trải qua một hoặc nhiều đợt tái phát bệnh trong giai đoạn 3, với biên độ không thua kém xác định trước nhỏ hơn 8% điểm giữa allopurinol và febuxostat. Điểm kết thúc phụ bao gồm hiệu quả ở những bệnh nhân mắc bệnh thận mạn, tỷ lệ đạt được nồng độ urat huyết thanh mục tiêu và biến cố tác dụng phụ nghiêm trọng.

sosanh6

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 03 Tháng 5 2022 21:09

Đái tháo nhạt sau chấn thương sọ não

  • PDF.

Bs Đinh Hồng Thảo - 

1. Đại cương

Chấn thương sọ não là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tật và tử vong ở nhiều nhóm tuổi. Rối loạn chức năng nội tiết thần kinh đã được công nhân là một trong những hậu quả của chấn thương sọ não bao gồm suy thuỳ trước và thuỳ sau tuyến yên trong đó rối loạn về nước và điện giải (đái tháo nhạt) và hội chứng tiết hormone ADH không thích hợp (SIADH) là một trong di chứng khó khăn nhất. chấn thương đầu cấp tính có thể dẫn đến (trực tiếp hoặc gián tiếp) rối loạn chức năng của tế bào thần kinh vùng dưới đồi tiết ADH hoặc thuỳ sau tuyến yên gây đái tháo nhạt sau chấn thương (PTDI). PTDI thường được chẩn đoán trong những ngày đầu tiên sau chấn thương với biểu hiện đa niệu giảm tỉ trọng. thông thường tình trạng chung của bệnh nhân là thiếu cung cấp đủ nước để bù lại lượng nước mất và xảy ra tình trạng mất nước nghiêm trọng kèm tăng natri máu. PTDI có tỉ lệ tử vong cao, đặc biệt khi xuất hiện rất sớm sau chấn thương. ở nhiều bệnh nhân còn sống, PTDI là thoáng qua, kéo dài vài ngày đến vài tuần và trong một số ít trường hợp là tồn tại vĩnh viễn, cần được điều trị như đái tháo nhạt trung ương không do chấn thương.

DAITHAONHATCTSN

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 29 Tháng 4 2022 21:52

Theo dõi chống đông tại đơn vị Chăm sóc đặc biệt

  • PDF.

Bs Nguyễn Hoàng Kim Ngân -

TỔNG QUAN

Những bệnh nhân mắc bệnh lý nguy kịch thường có biến chứng giảm đông và tăng đông thay đổi đòi hỏi phải theo dõi sát và điều trị bằng thuốc chống đông để ngăn ngừa hoặc điều trị sự hình thành cục máu đông không phù hợp. Bắt buộc phải hiểu các giai đoạn khác nhau của quá trình đông máu và nơi mỗi thuốc phát huy tác dụng điều trị của nó. Các xét nghiệm đông máu thông thường được sử dụng để theo dõi các khu vực của dòng thác đông máu và các hiệu quả mà thuốc chống đông máu thể hiện. Nhiều xét nghiệm đông máu mới cũng đang được phát triển. Mục đích của bài tổng quan mô tả này là để đánh giá các xét nghiệm đông máu thường được sử dụng để theo dõi chống đông máu trong khi điều trị tại đơn vị chăm sóc đặc biệt.

Bệnh nhân mắc bệnh nguy kịch thường có di chứng giảm đông và tăng đông thay đổi đòi hỏi phải theo dõi cường độ cao và điều trị bằng thuốc chống đông để ngăn ngừa hoặc điều trị sự hình thành cục máu đông không phù hợp. Các tác nhân như các dẫn xuất của heparin gồm heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) và heparin không phân đoạn (UFH), và warfarin thường được sử dụng trong đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) cho cả mục đích phòng ngừa và điều trị cục máu đông. Ngoài ra, bệnh nhân thường đến ICU với phác đồ chống đông máu tại nhà như thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp (DOACs) và xác định yêu cầu đảo ngược tác dụng của chúng được chỉ định. Dòng thác đông máu (Hình 1) là khía cạnh được quan tâm khi xác định các lý do có thể có đối với rối loạn đông máu của bệnh nhân cũng như phạm vi mà mỗi loại thuốc chống đông máu phát huy tác dụng điều trị của nó. Khi đánh giá thuốc chống đông máu, bác sĩ lâm sàng phải phân biệt và hiểu cả dữ liệu định lượng và chức năng để đánh giá tác dụng dược động học mà liệu pháp đang sử dụng. Mục đích của bài tổng quan mô tả này là để đánh giá các xét nghiệm đông máu được sử dụng phổ biến để theo dõi chống đông máu khi điều trị tại ICU.

chongdongicu

Hình 1. Dòng thác đông máu bao gồm các yếu tố hoạt hóa tiếp xúc, yếu tố mô, và con đường chung

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 28 Tháng 4 2022 12:07

Quản lý toan chuyển hóa trong ICU: natri bicarbonate và liệu pháp thay thế thận

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Yến Linh - 

Giới thiệu

Nhiễm toan chuyển hóa là một quá trình gây ra bởi sự gia tăng các axit yếu hoặc giảm sự chênh lệch các ion mạnh (SID) [1]. Protein huyết thanh, albumin và photphat vô cơ được coi là axit yếu. Các ion mạnh, chẳng hạn như Na +, K +, Ca2 +, Mg2 + và Cl-, tồn tại ở trạng thái ion hóa hoàn toàn trong dịch cơ thể. SID là sự hiện diện của quá mức các cation hơn anion mạnh, và giá trị bình thường trong huyết tương là 42 mEq / l. Phương pháp để định lượng nhiễm toan chuyển hóa bằng cách sử dụng SID và các axit yếu đã được Stewart giới thiệu trong những năm 1980 và vẫn còn tạo ra tranh luận trong ứng dụng lâm sàng của nó [2]. Cơ sở kiềm dư trong huyết tương được sử dụng rộng rãi để xác định một thành phần chuyển hóa của nhiễm toan trong thực hành lâm sàng. Phương pháp tiếp cận kiềm dư được chứng minh là tương đương với phương pháp tiếp cận SID của Stewart trong việc định lượng tình trạng acid-base ở những bệnh nhân nặng [3].

bicacbonat

Nhiễm toan chuyển hóa được chia thành cấp tính và mãn tính. Mặc dù định nghĩa không rõ ràng, nhiễm toan chuyển hóa cấp tính xảy ra trong vòng vài ngày. Nhiễm toan mãn tính là một tình trạng kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng năm [4]. Trong chương này, chúng tôi tập trung vào nhiễm toan chuyển hóa ở bệnh nhân đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) và cung cấp thông tin cập nhật từ các nghiên cứu lâm sàng được công bố gần đây.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 27 Tháng 4 2022 21:39

Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật

  • PDF.

(ERAS: Enhanced recovery after surgery)

Bs. Hồ Thiên Diễm - 

GIỚI THỆU

Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS: Enhanced recovery after surgery) là chiến lược chăm sóc toàn diện kết hợp đa phương thức để giảm các biến chứng sau phẫu thuật và đạt được sự phục hồi sớm cho bệnh nhân. Các chiến lược này bao gồm ba giai đoạn trước, trong, sau phẫu thuật với sự tham gia của các chuyên ngành nội khoa, ngoại khoa, gây mê, hồi sức, phục hồi chức năng,…nhằm tối ưu hóa quá trình điều trị giúp hồi phục tốt và nhanh chóng, giảm thiểu thời gian nằm viện.

hoiphucmo

Chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật

Bệnh nhân được khám và điều trị các bệnh lý nội khoa, nhiễm trùng,…được thông báo đầy đủ các thông tin về cuộc phẫu thuật và chuẩn bị trước phẫu thuật: nhịn ăn, vệ sinh, thụt tháo,…

Bác sĩ Gây mê khám tiền mê và đưa ra đánh giá trước phẫu thuật nhằm xác định các yếu tố nguy cơ và bệnh lý kèm theo. Điều này cho phép lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật, gây mê ,lựa chọn nơi điều dưỡng sau phẫu thuật. Các bệnh mãn tính như đái tháo đường, hen suyễn, tăng huyết áp, thiếu máu và bệnh tim thiếu máu cục bộ, cần được chẩn đoán và đưa ra một kế hoạch tối ưu hóa phù hợp.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 27 Tháng 4 2022 20:44

You are here Tổ chức Tập san Y học