• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Cấy chỉ điều trị béo phì đơn thuần

  • PDF.

BS. Đoàn Trương Minh Thư – YHCT-PHCN

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Đại cương về béo phì

Béo phì đơn thuần là tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự gia tăng bất thường khối lượng cơ thể do năng lượng nạp vào vượt quá năng lượng tiêu hao, dẫn đến tích tụ mỡ quá mức trong cơ thể. Đây là một bệnh mạn tính và phức tạp, có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng.

Béo phì được xem là một yếu tố nguy cơ chính của các bệnh chuyển hóa và không lây nhiễm, bao gồm đái tháo đường típ 2, gan nhiễm mỡ không do rượu, tăng huyết áp, bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ), bệnh cơ xương khớp (thoái hóa khớp) và một số loại ung thư. Tăng cân có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, đặc biệt là tử vong do ung thư và bệnh tim mạch.

Béo phì ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp trong xã hội, góp phần làm gia tăng gánh nặng y tế và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu.

* Về hình thái phân bố mỡ, béo phì được chia thành ba dạng chính:

- Béo phì dạng nam (Béo phì phần trên cơ thể, béo phì kiểu bụng, béo phì hình quả táo, béo phì trung tâm):
Mỡ phân bố chủ yếu ở vùng bụng, thân mình, vai, cánh tay, cổ và mặt. Người bệnh thường có vẻ mặt hồng hào, cơ vân phát triển (khác với hội chứng Cushing). Dạng béo phì này thường gặp ở người ăn nhiều và dễ dẫn đến các biến chứng chuyển hóa như hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường, đái tháo đường típ 2, bệnh gút, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh túi mật và ung thư vú.

- Béo phì dạng nữ (Béo phì phần dưới cơ thể, béo phì hình quả lê):
Mỡ phân bố chủ yếu ở phần dưới cơ thể như khung chậu, vùng thắt lưng, mông và đùi. Người bệnh thường có da xanh, cơ kém phát triển, dễ suy nhược, có thể kèm theo suy tĩnh mạch chi dưới và rối loạn kinh nguyệt ở nữ.

- Béo phì hỗn hợp:
Mỡ phân bố tương đối đồng đều toàn thân. Những trường hợp béo phì nặng thường thuộc thể hỗn hợp.

caycghi

Xem tiếp tại đây

Cập nhật chẩn đoán và hướng điều trị nhiễm trùng khớp nhân tạo theo ICM 2025

  • PDF.

BSCKII. Đỗ Xuân Quang - 

I. TỔNG QUAN VÀ PHÂN LOẠI LÂM SÀNG

Nhiễm trùng khớp nhân tạo (PJI) là một thử thách lớn trong ngoại khoa chỉnh hình. Việc nhận diện sớm các triệu chứng đóng vai trò sống còn trong việc bảo tồn chi cho bệnh nhân.

1. Phân loại theo thời gian

Nhiễm trùng cấp tính: Các triệu chứng khởi phát trong vòng dưới 4 tuần kể từ khi phẫu thuật.

Nhiễm trùng mạn tính: Các triệu chứng kéo dài hoặc xuất hiện sau 4 tuần.

Nhiễm trùng cấp tính muộn (Hematogenous): Xuất hiện đột ngột trên một khớp nhân tạo đang hoạt động bình thường, thường do vi khuẩn di chuyển từ một ổ nhiễm trùng khác qua đường máu.

2. Triệu chứng lâm sàng điển hình

Dấu hiệu toàn thân: Bệnh nhân thường có biểu hiện sốt, ớn lạnh kèm theo tình trạng mệt mỏi kéo dài.

Dấu hiệu tại chỗ: Đau tại khớp là triệu chứng phổ biến nhất. Đi kèm là tình trạng sưng đỏ vết mổ và giảm tầm vận động (ROM) của khớp rõ rệt.

Dấu hiệu muộn: Xuất hiện dịch mủ chảy qua vết mổ hoặc hình thành lỗ dò (sinus tract) thông trực tiếp từ da vào đến khớp. Trên hình ảnh học (Xquang, CT-scan) có thể thấy dấu hiệu lỏng khớp hoặc mất vững implant.

II. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH

Theo đồng thuận ICM 2025, chẩn đoán xác định PJI được thiết lập khi có ít nhất 1 trong 2 tiêu chuẩn chính:

Sự hiện diện của đường rò: Có đường dò thông từ bề mặt da vào tới tận khớp nhân tạo hoặc nhìn thấy implant qua vết thương.

Kết quả nuôi cấy vi khuẩn: Phân lập được cùng một loại vi khuẩn gây bệnh từ 2 mẫu mô hoặc dịch khớp trở lên (được lấy trong các điều kiện vô trùng riêng biệt).

Xem tiếp tại đây

Cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư âm hộ theo ESGO 2023

  • PDF.

Bs CK1 Phạm Ngọc Na - TTUB

1. Các khuyến cáo chung

  • Kế hoạch đánh giá giai đoạn và điều trị nên được thực hiện dựa trên cơ sở đa chuyên khoa và dựa trên kiến thức về các yếu tố tiên lượng, tác dụng phụ và chất lượng cuộc sống [V, B].
  • Bệnh nhân cần được tư vấn kỹ lưỡng về kế hoạch chẩn đoán và điều trị cũng như các phương án thay thế, cả nguy cơ và lợi ích của tất cả các lựa chọn [V, B].
  • Việc điều trị nên được thực hiện bởi một đội ngũ chuyên gia trong việc chẩn đoán và điều trị ung thư âm hộ [V, B].
  • Khuyến khích bệnh nhân ung thư âm hộ tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng [V, B].
  • Chăm sóc hỗ trợ và hỗ trợ tâm lý nên được cung cấp cho tất cả bệnh nhân ung thư âm hộ trong suốt quá trình điều trị [V, B].

2. Chẩn đoán

Khuyến cáo

  • Khám âm hộ đối với phụ nữ có các triệu chứng tại âm hộ [V, B].
  • Khuyến khích vẽ sơ đồ lâm sàng và/hoặc chụp ảnh tổn thương [V, B].
  • Bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ ung thư âm hộ, chẩn đoán nên được xác định bằng sinh thiết bấm hoặc sinh thiết bằng dao. Tránh sinh thiết trọn để chẩn đoán ban đầu, vì điều này có thể gây trở ngại cho việc lập kế hoạch điều trị tiếp theo [V, B].
  • Những bệnh nhân có nhiều tổn thương âm hộ, tất cả các tổn thương nên được sinh thiết riêng biệt kèm ghi chép vị trí rõ ràng [V, B].

kaho

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 09 Tháng 4 2026 16:27

Phục hồi dinh dưỡng đường tiêu hóa sau phẫu thuật

  • PDF.

Bs. Hồ Thiên Diễm – GMHS

Sau phẫu thuật, cơ thể người bệnh bước vào giai đoạn phục hồi với nhiều thay đổi về chuyển hoá, miễn dịch và nhu cầu năng lượng. Dinh dưỡng đúng cách không chỉ giúp vết mổ mau lành mà còn giảm biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện và cải thiện kết quả điều trị.

1. Sự thay đổi quan điểm trong y học hiện đại

Trong nhiều thập kỷ, quy tắc "bất di bất dịch" của ngoại khoa là bệnh nhân phải nhịn ăn uống cho đến khi có trung tiện (đánh rắm) – dấu hiệu cho thấy nhu động ruột đã hoạt động trở lại. Tuy nhiên, các bằng chứng y học hiện nay, đặc biệt là trong chương trình ERAS (Enhanced Recovery After Surgery - Phục hồi sớm sau phẫu thuật), đã thay đổi hoàn toàn tư duy này.

Việc bắt bệnh nhân nhịn ăn quá lâu sau mổ dẫn đến nhiều hệ lụy:

  • Teo niêm mạc ruột: Làm giảm hàng rào bảo vệ, dễ gây nhiễm khuẩn huyết từ đường ruột.
  • Tăng tình trạng kháng Insulin: Gây khó khăn trong việc kiểm soát đường huyết.
  • Chậm lành vết thương: Do thiếu hụt protein và năng lượng cấp tính.

DDUONG

Đọc thêm...

Bình chứa thuốc mê bay hơi

  • PDF.

Bs. Phạm Văn Thịnh - 

Năm 1846, William T.G.Morton đã thực hiện buổi trình diễn công khai đầu tiên về gây mê bằng ether bằng một dụng cụ hít đơn giản nhưng rất khéo léo. Mặc dù thiết bị này có hiệu quả trong việc cung cấp hơi thuốc mê, nhưng máy hít ether của Morton không có cách nào điều chỉnh nồng độ đầu ra hoặc bù trừ sự thay đổi nhiệt độ do quá trình bay hơi của chất gây mê lỏng và môi trường xung quanh gây ra.

Hai vấn đề này đã trở thành nền tảng cho sự phát triên và tiến háo sau này của các máy hóa hơi gây mê hiện đại. Các máy hóa hơi hiện đại có khả năng bù nhiệt và duy trì chính xác nồng độ mong muốn trong một phạm vi rộng của lưu lượng đầu vào.

Năm 1993, với sự ra đời của desflurane trong lâm sàng, một loại máy hóa hơi tinh vi hơn nữa đã được phát triển để xử lý các đặc tính vật lý đặc biệt của thuốc này. Các hệ thống máy hóa hơi “cassette” kết hợp giữa công nghệ truyền thống và điều khiển bằng máy tính cũng đã xuất hiện. Ngoài ra một loại máy hóa hơi kiểu “tiêm” cũng được tái giới thiệu; thiết bị này đưa một lượng chính xác thuốc mê dạng lỏng vào dòng khí tươi.

binh me

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 4 2026 07:25

You are here Đào tạo