• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Ttin thuốc

Không có dấu hiệu cho thấy bổ sung vitamin D giúp ngăn cản sự lão hóa xương ở người khỏe mạnh

  • PDF.

Khoa Dược

Một nghiên cứu vừa mới công bố,  bổ sung vitamin D không ngăn cản sự suy yếu xương, loãng xương ở người lớn khỏe mạnh.

Gần một nửa số người từ 50 tuổi trở lên sử dụng bổ sung vitamin D, nhưng những phát hiện này cho thấy rằng không có gì cần ở những người lớn khỏe mạnh phải bổ sung vitamin D để chống lại chứng loãng xương. Thay vào đó, việc sử dụng các chất bổ dưỡng nên  chỉ tập trung vào những người có thể sẽ thiếu vitamin D, các nhà nghiên cứu New Zealand cho biết.

vitaD

Một chuyên gia tại Hoa Kỳ cũng nhận định: "Việc xem xét hỗ trợ các nghiên cứu trước đây phát hiện ra rằng vitamin D  không phòng ngừa sự suy  yếu xương, loãng xương ở người lớn khỏe mạnh," Bà Victoria Richards, một trợ lý giáo sư khoa học y khoa tại Trường Netter Y khoa tại Đại học Quinnipiac ở Hamden, Connecticut  cho biết: "Từ nghiên cứu này, người tiêu dùng có thể không còn cảm thấy sự cần thiết phải tiếp tục mua bổ sung vitamin D để phòng ngừa bệnh loãng xương ".

Các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Ian Reid thuộc Đại học Auckland đã tổng hợp qua dữ liệu từ 23 nghiên cứu bao gồm tổng cộng hơn 4.000 người lớn khỏe mạnh, độ tuổi trung bình 59. Các dữ liệu đều cho thấy không có bằng chứng cho thấy uống vitamin D trung bình của hai năm cải thiện mật độ xương ở hông, cột sống, cánh tay hoặc toàn cơ thể.

Mật độ xương đo lượng tại các địa điểm khác nhau  được sử dụng để đánh giá sức mạnh của xương. Chỉ gia tăng  mật độ xương (0,8 %) ở những người uống bổ sung vitamin D đã được  thấy ở xương đùi, theo kết quả công bố trực tuyến ngày 10 Tháng 10 trong tạp chí The Lancet .

Có "rất ít bằng chứng về lợi ích tổng thể của việc bổ sung vitamin D trên mật độ xương," các nhà nghiên cứu cho biết, và "tiếp tục sử dụng rộng rãi  vitamin D đối với công tác phòng chống bệnh loãng xương ở người lớn tuổi trong cộng đồng không có yếu tố nguy cơ cụ thể cho sự thiếu hụt vitamin D có vẻ là không phù hợp. "

Tuy nhiên, một chuyên gia khác cho biết quyết định dùng vitamin D vẫn thuộc về từng cá nhân khi sự cân nhắc giữa hiệu quả /kinh tế là không quan trọng.

Theo Tin từ www.Drug.com

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 20 Tháng 10 2013 22:26

Fluoroquinolon thế hệ ba và bốn

  • PDF.

Ds Nguyễn Thị Mai

Khi gắn thêm nhóm piperazin và một nguyên tử Fluo vào acid nalidixic tạo thành norfloxacin là fluoroquinolon thế hệ I (FQ1G), đến thế hệ II là: ciprofloxacin, ofloxacin và pefloxacin. Các FQ2G này có tác dụng đối với trực khuẩn Gram âm và tác nhân gây bệnh đường hô hấp không điển hình. Những thuốc này có ưu điểm về dược động học (sinh khả dụng tốt, hàm lượng huyết thanh cao, thể tích phân bố lớn). Tuy nhiên hoạt tính của FQ2G trên S.pneumoniae và vi khuẩn yếm khí yếu hơn so với FQ4G. Các FQ trở thành nhóm kháng sinh quan trọng được sử dụng nhiều trong lâm sàng. Tình hình sử dụng quá mức trong lâm sàng và trong chăn nuôi đã dẫn đến xuất hiện nhanh chóng các chủng kháng thuốc.

quinolon2

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 10 Tháng 9 2013 08:10

Thông báo về việc tạm ngừng sử dụng thuốc cản quang Xenetix 300mg/50ml

  • PDF.

Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế đã ban hành công văn số 14212/QLD-CL ngày 30/08/2013 về việc tạm ngừng sử dụng các lô thuốc cản quang Xenetix 300mg/50ml – Số lô: 12WC034A và 12WC027C; SĐK: VN-4976-07 do Công ty Guerbet – Pháp sản xuất, Công ty Hyphens Marketing & Technical Service Pte. Ltd đăng ký.

xntic1

Xem toàn văn tại đây

Cảnh giác khi sử dụng thuốc paracetamol

  • PDF.

Ds Bùi Văn Nghĩa

Theo ghi nhận ở Anh quốc 10% các ca phẫu thật ghép gan là do nhiễm độc Paracetamol, với khoảng 20 viên nén Paracetamol có thể là nguy hiểm rồi. Ở Anh mỗi năm có tới 100-150 người chết với liều dùng đó. Và 3 vạn người đã phải vào bệnh viện vì bị ngộ độc Paracetamol. Ủy ban toàn quốc (CSM: commiltec on safety of medicines) đã cảnh báo về các tai nạn dùng Paracetamol. Muốn cố tình tự đầu độc người ta thường dùng thuốc này; còn các bệnh nhân dùng cùng một lúc nhiều chế phẩm có chứa Paracetamol có thể tự đầu độc một cách không ý thức. Các dạng thuốc khác nhau nhưng cũng có Paracetamol thì hiện nay thị trường có nhiều, thầy thuốc và dược sỹ cần báo trước cho bệnh nhân các nguy cơ ngộ độc vì dùng quá liều Paracetamol.

para1

Uống quá liều như vậy rất nguy hiểm và có thể gây tổn thương gan, mà chỉ sau 4 đến 6 ngày mới biết. Thuốc này được hấp thu tốt ở dạ dày ruột, 50% liều uống vào được liên kết với protein huyết tương. Nó bị chuyển hóa chủ yếu ở gan cho ra những chất không có hoạt tính nhưng cũng có một chất chuyển hóa có hoạt động mạnh đó là N-acetylbenzoquinon imine; chất này thường được nhóm SH của Glutathion khử độc. Tuy nhiên dự trữ Glutathion của gan cũng có giới hạn và có một lượng chất chuyển hóa quá nhiều mà lại hết dự trữ Glutathion thì chất chuyển hóa có thể phản ứng với các enzym tế bào và làm huỷ hoại các tế bào gan. Uống 10g Paracetamol một lần có thể hoại tử gan nặng. Nguy cơ độc cho gan đặc biệt nặng đối với người uống rượu mà lại uống Paracetamol, ngay cả với liều nhỏ thì lượng chất chuyển hóa độc cơ thể cũng là cao.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 17 Tháng 6 2013 21:00

Nên hạn chế sử dụng codeine để giảm đau ở trẻ em

  • PDF.

Ds Nguyễn Thị Mai

Codeine là loại thuốc giảm đau nhóm opioid, được sử dụng trong điều trị ho. Codein được bán rộng rãi như một loại thuốc đơn thành phần hoặc kết hợp với các chất khác như aspirin hoặc paracetamol.

Ảnh hưởng của codeine trên đau là do chuyển đổi thành morphin. Codein được chuyển thành morphine trong cơ thể bằng một loại enzyme gọi là CYP2D6. Trong  một số trường hợp người bệnh có enzyme 'CYP2D6 metabolisers siêu nhanh' chuyển đổi codeine thành morphine ở một tốc độ nhanh hơn so với bình thường. Điều này dẫn đến nồng độ  của morphine cao trong máu, có thể dẫn đến tác dụng độc hại như khó thở, suy hô hấp.

Theo báo cáo và đánh giá của cơ quan cảnh giác dược và Ủy ban quản lý rủi ro Châu Âu (PRAC) đã phát hiện tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc tử vong sau khi uống codeine để giảm đau. Hầu hết các trường hợp xảy ra sau khi phẫu thuật cắt bỏ amiđan vòm họng hoặc cho ngừng thở khi ngủ (bị gián đoạn thường xuyên của hơi thở trong khi ngủ).

Efferalgan_codein

Codeine được sử dụng rộng rãi để giảm đau ở người lớn và trẻ em. Những đứa trẻ đã bị tác dụng phụ nghiêm trọng do có enzym 'metabolisers siêu nhanh' của codein, codeine được chuyển thành morphine trong cơ thể với tốc độ nhanh hơn bình thường, dẫn đến nồng độ  morphine cao trong máu  gây khó thở, suy hô hấp.

Nhằm giảm thiểu rủi ro khi sử dụng codein để giảm đau cho trẻ em PRAC khuyến cáo:

  • Chỉ nên sử dụng codein để giảm đau cho trẻ em khi đã cân nhắc lợi ích lớn hơn những rủi ro.
  • Thuốc có chứa codeine chỉ nên được sử dụng để điều trị ngắn hạn trong đau vừa  cấp tính ở trẻ em trên 12 tuổi, và chỉ khi  không thể đáp ứng với các thuốc giảm đau khác như paracetamol hoặc ibuprofen.
  • Codeine không nên được sử dụng ở tất cả các trẻ em (độ tuổi dưới 18 tuổi) đã trải qua phẫu thuật để loại bỏ amidan hoặc vòm họng để điều trị ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn, những bệnh nhân dễ bị các vấn đề về đường hô hấp.
  • Thông tin kê đơn nên cảnh báo rằng trẻ em có vấn đề liên quan đến hô hấp không nên sử dụng codeine.

PRAC khuyến cáo thêm rằng, những nguy cơ tác dụng phụ với codein cũng có thể xảy ra ở người lớn, đặc biệt là những người có metabolisers cực nhanh. Codein cũng không dùng cho bà mẹ đang cho con bú, vì codeine có thể vào bé qua sữa mẹ. Thông tin trên toa thuốc codeine cũng nên bao gồm thông tin chung cho các chuyên gia y tế, bệnh nhân và người chăm sóc về nguy cơ tác dụng phụ morphine với codein, và làm thế nào để nhận ra các triệu chứng của họ.

Sau khi đánh giá tất cả các dữ liệu có sẵn, PRAC lưu ý rằng các dược động học của codeine (cách chuyển hóa thuốc trong cơ thể) đã được nghiên cứu ở người lớn nhưng rất ít thông tin có sẵn ở trẻ em, và các trường hợp báo cáo của suy hô hấp với codeine chỉ ra rằng trẻ em dưới 12 tuổi nguy cơ tác dụng phụ của morphine tăng hơn. Ngoài ra, các số liệu về hiệu quả giảm đau của codeine ở trẻ em cho thấy rằng tác động của codeine trên đau không phải là tốt hơn đáng kể  so với thuốc giảm đau không opioid như paracetamol hoặc ibuprofen.

www.ema.europd.eu
You are here Tin tức Thông tin thuốc