• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Xử trí hạ natri máu ở bệnh nhân suy tim

  • PDF.

BS. CKII Nguyễn Lương Quang - 

I. ĐẠI CƯƠNG

Hạ natri máu là rối loạn điện giải thường gặp ở bệnh nhân suy tim, đặc biệt trong các giai đoạn tiến triển hoặc đợt mất bù cấp. Tình trạng này không chỉ phản ánh mức độ nặng của bệnh mà còn là yếu tố tiên lượng độc lập về tử vong và tái nhập viện. Cơ chế chủ yếu liên quan đến tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm, hệ renin–angiotensin–aldosteron (RAAS) và tăng tiết hormone chống bài niệu (ADH), dẫn đến giữ nước tương đối so với natri. Việc xử trí cần cân bằng giữa điều chỉnh nguyên nhân, hạn chế nước, tối ưu hóa điều trị suy tim và sử dụng thuốc đặc hiệu trong một số trường hợp.

Hạ natri máu có thể xảy ra trong tăng thể tích do pha loãng hoặc hạ natri máu giảm thể tích do sử dụng quá nhiều thuốc lợi tiểu. Hai tình trạng này đòi hỏi các phương pháp điều trị khác nhau. Truyền natri dưới dạng dung dịch muối sinh lý có thể áp dụng trong trường hợp hạ natri giảm thể tích nhưng lại làm trầm trọng thêm tình trạng hạ natri tăng thể tích.

Hạ natri máu (Na⁺ < 135 mmol/L) gặp ở khoảng 20-30% bệnh nhân suy tim mạn, đặc biệt là suy tim nặng hoặc suy tim cấp mất bù. Đây là dấu hiệu của tình trạng giữ nước, giảm tưới máu thận và hoạt hóa thần kinh - thể dịch quá mức. Hạ natri máu không chỉ gây ra triệu chứng thần kinh (mệt mỏi, lú lẫn, co giật) mà còn liên quan mật thiết đến tiên lượng xấu, thời gian nằm viện kéo dài và tỷ lệ tử vong cao.

hântri

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 29 Tháng 11 2025 12:35

Thoái hóa khớp gối và các đường mổ thay khớp gối

  • PDF.

Bs CKII Đỗ Xuân Quang - 

1. BỆNH THOÁI HÓA KHỚP GỐI:

Thoái hoá khớp gối là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và huỷ hoaị của sụn và xương dưới sụn.

Sự mất cân bằng này có thể được bắt đầu bởi nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hoá và chấn thương

Biểu hiện cuối cùng của thoái hóa khớp là các thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hoá, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn.

Thoái hóa khớp gối là bệnh hay gặp trong các bệnh lý của khớp. Theo Ryckewaert A và CS tổng kết khoảng trên 80% số người mắc bệnh thoái hóa khớp gối là nữ. Những triệu chứng khởi phát của bệnh bắt đầu từ sau tuổi 40 và rõ nhất sau tuổi 50

Theo t/g Leeb BF (2001): Ở Mỹ có 21 triệu người mắc bệnh thoái hóa khớp. Khoảng 100.000 bệnh nhân ở Mỹ không thể đi lại được do bệnh nặng Thoái hóa khớp gối là nguyên nhân gây tàn tật cho người già đứng thứ hai sau bệnh tim mạch.

Theo t/g Beguin J A, Hero J, et al (1982):Tại Pháp bệnh thoái hóa khớp chiếm 28,6% các bệnh về xương khớp, ước tính có tới 3,4 triệu người tới điều trị bệnh thoái hóa khớp mỗi năm

Theo t/g Nguyễn Thị Mộng Trang, Lê Thị Anh Thư (2004):Tại Bệnh viện Chợ Rẫy thống kê trong 10 năm (1996-2006) thoái hóa khớp đứng hàng thứ 2 sau các bệnh tự miễn. Trong thoái hóa khớp (không kể thoái hóa cột sống), thoái hóa khớp gối chiếm 52,7%

khopgoi

Xem tiếp tại đây

Xuất huyết tiểu não tự phát do tăng huyết áp, lựa chọn điều trị: bảo tồn, dẫn lưu não thất hay gặm sọ hố sau giải ép lấy máu tụ

  • PDF.

BS. Nguyễn Ngọc Tân - 

I/ Tổng quan:

Xuất huyết tiểu não tự phát (XHTNTP) hiếm gặp, chiếm tỷ lệ từ 6,36% đến 16,4% trong tổng số tất cả các xuất huyết não tự phát, phần lớn nguyên nhân là do tăng huyết áp, một số ít trường hợp có thể do vỡ túi phình động mạch, khối dị dạng động tĩnh mạch tiểu não hoặc do u não xuất huyết. Do cấu trúc nhỏ hẹp của vùng hố sau nên một ổ xuất huyết nhỏ vùng tiểu não cũng có thể gây ra sự đè ép não (đặc biệt vùng thân não), dẫn đến sự tiến triển nhanh chóng của các triệu chứng lâm sàng, có thể ảnh hưởng đến sinh mạng người bệnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong và tàn phế của các XHTNTP cao hơn so với các xuất huyết não khác. Để giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế, việc chẩn đoán XHTNTP đòi hỏi cần được thực hiện nhanh chóng kết hợp với việc lựa chọn phương pháp điều trị kịp thời và hợp lý. Theo đa số các nghiên cứu, tỷ lệ các XHTNTP đòi hỏi cần thiết phải can thiệp phẫu thuật cao hơn so với xuất huyết tự phát trên lều. Các nghiên cứu về điều trị phẫu thuật cho các XHTNTP hiện nay tập trung nhiều vào phân tích các yếu tố (lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh) tiên lượng đến kết quả phẫu thuật.

Các khối tụ máu này có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao từ 20 đến 75%, bất kể phương thức điều trị, với các giá trị cao hơn được báo cáo trong thời kỳ trước chụp cắt lớp vi tính. Tỷ lệ tử vong phẫu thuật tổng thể hiện tại vẫn ở mức 20 đến 50%. Việc điều trị các trường hợp nặng, cũng như điều trị bệnh nhân có tình trạng thần kinh tốt, có thể đơn giản; tuy nhiên, nhóm bệnh nhân nằm giữa hai thái cực này đặt ra tình thế tiến thoái lưỡng nan trong việc ra quyết định điều trị. Mức độ ý thức suy giảm trong các trường hợp tụ máu tiểu não có thể do não úng thủy, chèn ép trực tiếp thân não bởi khối tụ máu và phù nề xung quanh, hoặc cả hai. Cần đưa ra quyết định để lựa chọn phương án điều trị phù hợp. Trong hầu hết các trường hợp, các quyết định liên quan đến điều trị phẫu thuật được xác định bởi kích thước của khối tụ máu và các yếu tố khác, như sự hiện diện của não úng thủy, mức độ chèn ép bể nền, và vị trí của khối tụ máu .Tranh cãi chính liên quan đến việc quyết định trường hợp nào cần phẫu thuật dẫn lưu khối tụ máu so với các lựa chọn khác, như chỉ dẫn lưu não thất hoặc điều trị bảo tồn. Hơn nữa, vì diễn biến lâm sàng ở một số trường hợp là khác nhau, nên cần xem xét cẩn thận thời điểm điều trị. Phẫu thuật giải ép lấy khối tụ máu hố sau có tỷ lệ rủi ro và tử vong cao . Dẫn lưu não úng thủy đơn thuần có thể không hiệu quả. Có một nhóm bệnh nhân mà việc điều trị bảo tồn là phù hợp.

  xhtn

Xem tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 26 Tháng 11 2025 21:00

Cập nhật phân loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu theo Hội Niệu khoa Châu Âu (EAU) 2025

  • PDF.

Bs Trần Lê Pháp - 

ĐẠI CƯƠNG

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) bao gồm một loạt các tình trạng lâm sàng và bệnh lý ảnh hưởng đến nhiều phần khác nhau của hệ tiết niệu. Mỗi tình trạng có dịch tễ học, diễn tiến tự nhiên và tiêu chí chẩn đoán riêng. Việc phân biệt chính xác là rất quan trọng vì ảnh hưởng đáng kể đến điều trị và tiên lượng. Do đó, việc chuẩn hoá thuật ngữ là cần thiết để bảo đảm giao tiếp hiệu quả về chủ đề này. Hiện tồn tại nhiều hệ thống phân loại NKĐTN. Hệ thống được sử dụng rộng rãi nhất là của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), Hiệp hội Bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA), Hội Vi sinh lâm sàng và Bệnh truyền nhiễm châu Âu (ESCMID) và Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Các hướng dẫn hiện tại thường phân biệt giữa NKĐTN không biến chứng và có biến chứng, với một số điều chỉnh. Theo các định nghĩa này, NKĐTN không biến chứng xảy ra ở phụ nữ khoẻ mạnh, không mang thai, còn tất cả các trường hợp còn lại được xếp vào NKĐTN có biến chứng. Cách phân loại này đơn giản, nhưng tiềm ẩn rủi ro vì có thể ảnh hưởng đáng kể đến xử trí ban đầu và lựa chọn điều trị.

Hội đồng xây dựng Hướng dẫn đề xuất một sơ đồ phân loại mới cho NKĐTN nhằm tăng tính thống nhất trong thực hành lâm sàng và cung cấp một khung toàn diện để hiểu các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Phân loại được đề xuất không còn sử dụng thuật ngữ “không biến chứng” và “có biến chứng”; thay vào đó, nhấn mạnh sự khác biệt giữa NKĐTN khu trú và NKĐTN toàn thân, được xác định dựa trên các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng.

ntdt1

Xem tiếp tại đây

 

Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trong sản khoa

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

1. Giới thiệu

Phụ nữ mang thai hoặc trong thời kỳ hậu sản có nguy cơ mắc bệnh huyết khối cao gấp 4-5 lần so với phụ nữ không mang thai. Khoảng 80% các trường hợp huyết khối trong thai kỳ là huyết khối tĩnh mạch, chiếm tỉ lệ 0,5-2,0/1.000 sản phụ.

Bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ tại Hoa Kỳ, chiếm 9,3% tổng số ca tử vong mẹ. Trong các loại TTHKTM trong thai kỳ: Huyết khối tĩnh mạch sâu chiếm 75-80%, thuyên tắc phổi  chiếm 20-25%. TTHKTM sâu trong thai kỳ thường liên quan đến chi dưới bên trái nhiều hơn so với bên phải.

Về sinh lý bệnh: Cơ chế hình thành huyết khối tĩnh mạch là do sự phối hợp của 3 yếu tố: ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông và tổn thương thành mạch. Các thay đổi sinh lý và giải phẫu trong thai kỳ làm tăng nguy cơ TTHKTM bao gồm tăng đông máu, tăng ứ trệ tĩnh mạch, giảm lưu lượng tĩnh mạch, đè ép tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch chậu do sự lớn lên của tử cung và giảm khả năng vận động của sản phụ. Thai kỳ cũng làm tăng đông và làm thay đổi nồng độ của các yếu tố đông máu.

2. Các yếu tố nguy cơ (YTNC)

Nguy cơ TTHKTM xuất hiện từ đầu thai kỳ và tăng lên vào 3 tháng cuối thai kỳ. Nguy cơ TTHKTM trong giai đoạn hậu sản cao hơn trong thai kỳ, đặc biệt trong tuần 1 giai đoạn hậu sản.

- Tiền sử bị huyết khối: đây là YTNC quan trọng nhất, nguy cơ TTHKTM tái phát trong thai kỳ tăng 3-4 lần, 15-25% các trường hợp TTHKTM trong thai kỳ là do tái phát.

- Bệnh lý tăng đông mắc phải hoặc di truyền: chiếm 20-25% các trường hợp TTHKTM trong thai kỳ và giai đoạn hậu sản.

- Các YTNC khác:

  • Bệnh tim, bệnh lý hemoglobin, tăng huyết áp, tiền sản giật, hội chứng thận hư, lupus ban đỏ hệ thống
  • Mổ lấy thai, băng huyết sau sinh, nghén nặng, truyền máu, thai lưu.
  • Nhiễm trùng hậu sản, hỗ trợ sinh sản, đa thai, sinh non,
  • Tuổi >35, béo phì (BMI >30 kg/m2 ), hút thuốc lá (> 10 điếu/ngày), bất động thời gian đài...
  • tacmachsk

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 21 Tháng 11 2025 18:15

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV