• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Vạt nhánh xuyên động mạch quay

  • PDF.

TT CTCH - Bỏng

GIỚI THIỆU

Vạt cẳng tay quay, được biết đến ở nước ngoài với tên gọi “vạt Trung Quốc (Chinese flap)”, được Guofan Yang báo cáo lần đầu tiên vào năm 1981 và nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng ngay từ giai đoạn đầu sau khi được giới thiệu.

Tuy nhiên, chỉ định của loại vạt này ngày càng bị thu hẹp, do phải hi sinh một trong hai động mạch chính của cẳng tay và do sẹo ghép da xấu ở vùng cho vạt.

Trước những hạn chế đó, các học giả trong và ngoài Trung Quốc đã tiến hành nhiều nghiên cứu giải phẫu về các nhánh xuyên ở mặt quay của cẳng tay, từ đó đề xuất một loạt kỹ thuật phẫu thuật cải tiến, bao gồm:

  • Vạt nhánh xuyên động mạch quay đoạn gần (proximal radial artery perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên mặt sau – ngoài cẳng tay giữa (posterolateral mid-forearm perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên động mạch quay đoạn xa (distal radial artery perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên vùng hố lào (snuff-box radial perforator flap).

vat

Xem tiếp tại đây

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản trong bệnh lý ho ra máu

  • PDF.

CN Trần Đình Vân – 

Tổng quan

Chụp CT( Chụp cắt lớp vi tính: Computed Tomography Scan ) động mạch phế quản là kỹ thuật sử dụng tia X để tạo ảnh chụp chi tiết các động mạch phế quản, thường kết hợp với tiêm thuốc cản quang để làm nổi bật các mạch máu, giúp bác sĩ chẩn đoán và đánh giá các bệnh lý như ho ra máu do giãn phế quản hoặc khối u

Chụp CT động mạch phế quản là một trong những phương pháp chẩn đoán hình ảnh nhanh, ít xâm lấn và cho độ nhạy cao.

1. Giải phẫu

Các động mạch phế quản bình thường là các mạch máu nhỏ # <1.5mm ( hình 1|), chủ yếu xuất phát từ động mạch chủ ngực (ngang đốt sống ngực D5-D6), một tỉ lệ nhỏ xuất phát từ các nhánh của động mạch chủ như động mạch dưới đòn, động mạch nách, động mạch hoành dưới... Nhưng dù xuất phát ở đâu chúng đều đi qua rốn phổi vào phổi, rồi chia ra các nhánh tuỳ hành với phế quản, cấp máu nuôi dưỡng đường thở (cây phế quản) và nhu mô phổi (phế nang, tổ chức kẽ của phổi) .

Động mạch phế quản gọi là giãn khi mạch máu   # >2mm ( hình 2) sẽ cho hình ảnh rõ trên CTA (computed tomography angiography ) động mạch phế quản.

ctpq

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 25 Tháng 10 2025 07:40

Thai nghén thất bại sớm

  • PDF.

Bs Đinh Thị Thu Trang - 

ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ

Khái niệm thai sinh hóa (biochemical prenancy) dùng chỉ các tình trạng có hiện diện đơn độc b-hCG trong huyết thanh, mà không kèm theo bất cứ một dấu hiệu chắc chắn nào khác của có thai.

Khái niệm thai lâm sàng dùng để chỉ các thai kỳ được nhận diện qua thăm khám lâm sàng hay qua khảo sát hình ảnh. Thai lâm sàng có thể tiếp tục tiến triển thành công và kết cục bằng trẻ sinh sống hoặc thất bại trong việc tiến triển được gọi là thai nghén thất bại sớm.

Thai nghén thất bại sớm (Early Pregnancy Failure) như trứng trống (có túi thai nhưng bên trong túi thai này không chứa phôi thai) hoặc túi thai với phôi thai nhưng không có tim thai. Khái niệm này không bao gồm tình trạng thại sinh hóa.

tntbsom

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

  • Khoảng 50% thai ngừng tiến triển sớm do bất thường nhiễm sắc thể.
  • Các yếu tố nguy cơ phổ biến: mẹ lớn tuổi, có tiền căn thai lưu sớm.
  • Có nhiều nguyên nhân gây nên thai ngưng tiến triển sớm như: mẹ nhiễm rubella, cúm; nhiễm toxoplasma; sốt rét, viêm phổi, thương hàn, các chấn thương tâm lý như sợ hãi, xúc động quá mức.
  • U xơ tử cung dưới niêm mạc sẽ cản trở quá trình làm tổ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển các mạch máu tử cung nhau gây nên tình trạng thai ngừng phát triển.
  • Chấn thương trực tiếp vào vùng bụng.
  • Dị dạng tử cung, dính buồng tử cung, dị dạng dây rốn, hoại thư bánh nhau …
  • Tất cả các rối loạn về nội tiết như: cường giáp, suy giáp, tiểu đường, hội chứng cushing, suy hoàng thể … có thể gây nên tình trạng thai ngừng tiến triển.
  • Tác nhân phóng xạ, thuốc lá, chất hóa học …
  • Ngoài ra tuổi mẹ trên 40 tuổi, đời sống kinh tế thấp cũng góp phần tăng tỷ lệ thai ngừng tiến triển.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 22 Tháng 10 2025 10:46

Phòng ngừa và quản lý nhận thức ngoài ý muốn trong gây mê

  • PDF.

Bs. Hồ Thiên Diễm - 

Nhận thức ngoài ý muốn trong quá trình gây mê (Accidental awareness during general anesthesia: AAGA) hay thức tỉnh trong gây mê xảy ra khi độ sâu của thuốc mê không đủ để đạt được trạng thái bất tỉnh, bệnh nhân lại các sự kiện đã xảy ra trong khi gây mê, bao gồm đau đớn, áp lực, tê liệt, nghe thấy tiếng động, hoặc cảm giác tử vong sắp xảy ra, nó có thể dẫn đến những di chứng tâm lý đáng kể, bao gồm lo âu, trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). Tình trạng này thường gây ra chấn thương tâm lý cho người bệnh, có thể xảy ra ở các trường hợp bênh nhân có nguy cơ cao như bệnh nhân đa chấn thương, phẫu thuật tim, hoặc mổ lấy thai khẩn cấp. 

Đã có một số nghiên cứu tìm hiểu tần suất xảy AAGA, tỷ lệ mắc AAGA dao động từ 1:1000 đến 1:20.000, với nhiều biến thể phụ thuộc vào các biến số trong kỹ thuật gây mê, quần thể bệnh nhân và bối cảnh/thủ thuật phẫu thuật.

nhanthuc

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 29 Tháng 9 2025 15:42

Quản lý thuốc trước phẫu thuật

  • PDF.

BS Võ Văn Phong - 

Tình trạng bệnh lý đi kèm và loại phẫu thuật phải được xem xét khi quản lý thuốc trong giai đoạn chu phẫu. Một số loại thuốc có tác dụng có lợi trong quá trình phẫu thuật, trong khi những loại khác có thể gây hại. Trong một số trường hợp, việc ngưng thuốc đột ngột có thể gây tác động tiêu cực.

Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) có tác dụng chống kết tập tiểu cầu có thể hồi phục; do đó, một khi thuốc đã được thải trừ, chức năng tiểu cầu sẽ trở lại bình thường. Việc sử dụng đồng thời NSAIDs dường như không làm tăng nguy cơ tụ máu tủy sống khi gây tê trục thần kinh. Việc ngưng NSAIDs trước phẫu thuật có thể hữu ích ở những bệnh nhân có nguy cơ bị tổn thương thận cấp (AKI) chu phẫu. Thông thường, NSAIDs được ngưng từ 24 đến 72 giờ trước phẫu thuật. Việc ngưng sớm hơn không làm tăng tính an toàn và có thể gây phiền toái cho nhiều bệnh nhân bị viêm khớp nặng hoặc bệnh nhân đau mạn tính. Các thuốc ức chế COX-2 (ví dụ: celecoxib) có ảnh hưởng tối thiểu đến chức năng tiểu cầu và không làm tăng nguy cơ chảy máu chu phẫu. Do đó, các thuốc ức chế COX-2 thường có thể được tiếp tục sử dụng trong giai đoạn chu phẫu. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc ức chế COX-2 lâu dài trong điều trị không phẫu thuật làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch, so với giả dược hoặc naproxen. Ngược lại, các thuốc ức chế COX-2 có nguy cơ tim mạch tương tự như ibuprofen hoặc diclofenac. Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy nguy cơ tim mạch tăng lên khi sử dụng thuốc ức chế COX-2 ngắn hạn trong giai đoạn chu phẫu. Trường hợp ngoại lệ là valdecoxib (hiện đã bị rút khỏi thị trường), đã gây ra sự gia tăng các biến cố tim mạch ở những bệnh nhân đã phẫu thuật tim.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 28 Tháng 9 2025 14:26

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV