• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Xử trí thai chết lưu - thai dị dạng

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

Thai chết trong tử cung là thai chết và lưu lại trong buồng tử cung của người mẹ, có thể xảy ra ở bất cứ tuổi thai nào khi chưa có dấu hiệu chuyển dạ. 

Khi thai chết lưu, người mẹ nhận thấy một số dấu hiệu bất thường sau: thai không còn cử động, bụng nhỏ dần đi, vú căng và tiết sữa, âm đạo tiết ra nhiều các chất màu đỏ sẫm.

Thai chết lưu không có biến chứng không gây nguy hiểm gì lớn cho sức khỏe và tính mạng của người mẹ nếu được phát hiện và xử lý sớm. Tuy nhiên, nếu phát hiện muộn, trường hợp thai chết không bị sẩy ngay mà nằm lại trong tử cung một thời gian, thì mẹ có thể bị rối loạn đông máu hoặc có nguy cơ nhiễm trùng.

Thai dị tật đối với những trường hợp thai 26 tuần trở lên, thường gây khó khăn trong việc chấm dứt thai kỳ. Vì vậy, thường áp dụng phác đồ fetocide trước khi chấm dứt thai kỳ.

thaididang

Muốn đọc thêm chi tiết, xin xem tại đây.

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 10 Tháng 9 2021 16:56

Giảm tiểu cầu huyết khối miễn dịch liên quan đến vắc xin COVID-19

  • PDF.

BSCK2.Lê Tự Định - 

GIỚI THIỆU

Tiêm vắc xin được xem là cách tiếp cận hứa hẹn nhất để chấm dứt hoặc ngăn chặn đại dịch COVID-19. Các loại vắc xin hiện có đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả cao.

Vào cuối tháng 2 năm 2021, một hội chứng huyết khối, giảm tiểu cầu đã quan sát thấy ở một số ít người được tiêm vắc-xin ChAdOx1 CoV-19 (AstraZeneca, Đại học Oxford và Viện Huyết thanh của Ấn Độ), một loại vắc-xin dựa trên công nghệ vector adenovirus. Sau đó, những phát hiện tương tự cũng được quan sát thấy ở một số ít người được tiêm vắc-xin Ad26.COV2.S (Janssen; Johnson & Johnson), cũng dựa trên một vector adenovirus. Hội chứng này đã được gọi là giảm tiểu cầu huyết khối miễn dịch liên quan tiêm vắc xin (VITT). Nó cũng được gọi là huyết khối với hội chứng giảm tiểu cầu (TTS) và giảm tiểu cầu miễn dịch huyết khối liên quan tiêm vắc-xin (VIPIT).

Tỷ lệ chính xác của VITT vẫn chưa được biết, nhưng thường rất hiếm. Dù tỷ lệ mắc bệnh rất thấp, việc tiêm chủng hàng loạt cho hàng triệu người đã dẫn đến hàng trăm bệnh nhân mắc tình trạng này.

Vaccin

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 07 Tháng 9 2021 18:42

Đánh giá và quản lý chứng chán ăn và suy mòn trong chăm sóc giảm nhẹ

  • PDF.

Bs. Trịnh Thị Lý - 

GIỚI THIỆU

Hyppocrates đã mô tả một hội chứng suy kiệt và mất nhận thức tiến triển ở những bệnh nhân ốm và sắp chết. Bắt nguồn từ từ “kakos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “những điều tồi tệ” và hexus có nghĩa là “trạng thái hiện hữu” thuật ngữ “suy mòn” đã được sử dụng để mô tả việc sụt cân. Từ “an” có nghĩa là “không có” và “orexis” có nghĩa là “thèm ăn, ham muốn”, từ “anoxeria” được sử dụng để mô tả sự chán ăn. Suy mòn là một trạng thái tăng trao đổi chất được xác định là sự mất nhanh cơ xương trong bối cảnh phản ứng viêm mãn tính, được mô tả tốt nhất trong bối cảnh ung thư nhưng cũng được thấy trong các bệnh mãn tính tiến triển khác bao gồm AIDS, suy tim, và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD). Mặc dù những thay đổi về thành phần cơ thể không giống nhau trong tất cả các trạng thái bệnh này, nhưng thuật ngữ suy mòn được sử dụng trong tất cả các trường hợp này.

Chán ăn và sụt cân thường gặp ở những bệnh nhân mắc một căn bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng như ung thư. Tuy nhiên sự sụt cân nghiêm trọng ở bệnh nhân suy mòn do ung thư không phải hoàn toàn là do lượng calo dung nạp kém. Trái ngược với tình trạng đói đơn thuần, được đặc trưng bởi sự thiếu hụt calo mà có thể được đảo ngược bằng cách cho ăn thích hợp, tình trạng suy mòn không thể đảo ngược bằng cách bổ sung calo.

Đánh giá chủ đề này sẽ bao gồm chẩn đoán, đánh giá và quản lý chứng chán ăn và suy mòn ở bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ. Đánh giá chi tiết hơn về các đặc điểm lâm sàng, cơ chế bệnh sinh và cách quản lý chứng chán ăn và suy mòn liên quan đến ung thư.

understanding-cachexia

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 06 Tháng 9 2021 16:44

Những thay đổi về thực hành lâm sàng trong can thiệp tim mạch dựa trên bằng chứng

  • PDF.

Bs Nguyễn Tấn Hạnh - 

Các thủ thuật can thiệp tim mạch đã phát triển và mở rộng nhanh chóng về phạm vi cũng như kĩ thuật trong vài thập kỷ qua. Bên cạnh những khía cạnh trong thực hành lâm sàng đã được kiểm chứng qua những nghiên cứu có giá trị, một số phương pháp từ lâu đến nay vẫn tiếp tục được áp dụng dựa trên giả thuyết của các bác sỹ lâm sàng. Bài viết này sẽ tóm tắt và nhấn mạnh những phương pháp điều trị, sự chuẩn bị trước, trong và sau thủ thuật dựa trên những bằng chứng mới nhất nhằm ủng hộ hay sửa đổi những giả thuyết ảnh hưởng đến việc thực hành lâm sàng trước đây.

I. ĐIỀU TRỊ TRƯỚC CAN THIỆP

1. Nhịn ăn trước thủ thuật

Những bệnh nhân chuẩn bị can thiệp thường được cho nhịn ăn qua đêm hoặc trong nhiều giờ. Có 2 lý do chính cho việc nhịn ăn bao gồm: (1) Nôn thường xảy ra khi sử dụng các loại thuốc cản quang ion hóa, áp lực thẩm thấu cao, do vậy có thể dẫn tới nguy cơ viêm phổi hít, đặc biệt ở những bệnh nhân được an thần do phản xạ bảo vệ đường thở giảm đi. (2) Dự phòng hiện tượng nôn gây viêm phổi hít khi đặt nội khí quản do các biến chứng khi can thiệp.

Tuy nhiên, cho đến hiện tại không có bằng chứng nào đủ mạnh để ủng hộ việc nhịn ăn kéo dài ở những bệnh nhân can thiệp được an thần. Bằng chứng của nôn hay nguy cơ phẫu thuật cấp cứu ở những bệnh nhân được can thiệp hiện tại rất thấp. Ngoài ra, nhịn ăn kéo dài có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn ở một số bệnh nhân nhạy cảm. Hội Gây Mê Hoa Kỳ (2017) khuyến cáo rút ngắn thời gian nhịn ăn hơn là nhịn ăn qua đêm, những thức uống lỏng và bữa ăn nhẹ được khuyến cáo trước thủ thuật lần lượt 2 giờ và 6 giờ. Việc nhịn ăn trước thủ thuật nên được cân nhắc và có thể không cần thiết ở những bệnh nhân chỉ gây tê tại chỗ, không an thần, ở những bệnh nhân đó phản xạ bảo vệ đường thở bình thường và không có yếu tố nguy cơ viêm phổi hít.

THLS

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 9 2021 19:20

Chăm sóc bệnh nhân bị “Hội chứng hậu COVID-19”

  • PDF.

BsCKII Trần Lâm - 

Mở đầu:

Hầu hết bệnh nhân mắc COVID-19 đều hồi phục trong vòng vài tuần sau khi bị bệnh, tuy nhiên, một số người lại gặp phải “Hội chứng hậu COVID-19” (post-COVID-19 syndrome). Hội chứng hậu COVID-19 được định nghĩa là một loạt các vấn đề sức khỏe mới, đang trở lại hoặc đang diễn ra mà bệnh nhân có thể mắc phải sau ≥ 4 tuần kể từ lần đầu tiên bị nhiễm COVID-19. Khung thời gian từ 4 tuần trở lên là ước tính gần đúng về các tác động xảy ra ngoài giai đoạn cấp, nhưng khoảng thời gian này có thể thay đổi khi chúng ta biết nhiều hơn về COVID-19.

Về mặt thuật ngữ, “Hội chứng hậu COVID-19” còn có thể được gọi là “Các tình trạng hậu COVID”, “COVID kéo dài”, “COVID-19 sau giai đoạn cấp”, “Ảnh hưởng lâu dài của COVID” hoặc “COVID mạn”,...

Ngay cả những người không có các triệu chứng COVID-19 trong những ngày hoặc vài tuần sau khi họ bị nhiễm virus SARS-CoV-2 cũng có thể mắc Hội chứng hậu COVID-19. Hội chứng này có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau với sự kết hợp của các vấn đề sức khỏe trong các khoảng thời gian khác nhau.

Riêng ở trẻ em và thanh thiếu niên, mặc dù COVID cấp có thể ít nghiêm trọng hơn so với người trưởng thành, nhưng bệnh có thể dẫn đến nhiều kết cục có thể từ bán cấp đến nặng. Ảnh hưởng lâu dài do nhiễm SARS-CoV-2 có thể là đáng kể, bất kể mức độ nghiêm trọng của bệnh ban đầu.

haucovid

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 9 2021 18:45

You are here Tổ chức Tập san Y học