• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Buồn nôn và nôn nghén trong thai kỳ

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

Buồn nôn và nôn nghén trong thai kỳ là tình trạng phổ biến ở phụ nữ mang thai với tần suất hay gặp ở buồn nôn khoảng 50-80% trong thai kỳ và 50% liên quan đến nôn nghén. Tỷ lệ tái phát ở thai kỳ tiếp theo có thể dao động khoảng 15- 81%. Nó có thể làm giảm chất lượng cuộc sống của người phụ nữ và có thể ảnh hưởng đến thai nhi.

Việc chẩn đoán và phát hiện sớm có thể ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng cho mẹ và thai..Buồn nôn và nôn nghén khi mang thai cần phải chẩn đoán phân biệt với một số nguyên nhân khác liên quan đến tiêu hóa, thần kinh, nội tiết, chuyển hóa…

Với mức độ nhẹ, các phụ nữ mang thai có thể thay đổi lối sống và chế độ ăn uống hợp lý. Ngoài ra, có một số liệu pháp hỗ trợ không cần dùng thuốc. Một số thuốc có thể dùng được tương đối an toàn trong thai kỳ để chống nôn. Các trường hợp nặng, cần nhập viện để điều chỉnh rối loạn điện giải cũng như bổ sung thay thế liệu pháp đường uống cũng như phòng ngừa hội chứng Wernick do thiếu vitamin B1. Các bài báo của RCOG 2016 và ACOG 2018 cũng cập nhật một số biện pháp để chẩn đoán và điều trị nôn nghén trong thai kỳ cho các thai phụ.

bnon

Muốn biết thêm chi tiết xin đọc tại đây.

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 28 Tháng 6 2021 18:16

Tóm tắt khuyến cáo điều trị suy tim EF giảm cuả Hội tim mạch Canada 2021 (CCS 2021)

  • PDF.

Bs Trương Duy Nghĩa - 

1. Trong trường hợp không có chống chỉ định, bệnh nhân suy tim EF giảm nên được điều trị bằng liệu pháp kết hợp, bao gồm các loại thuốc sau:

a. ARNI (hoặc ACEI / ARB)

b. Chẹn β

c. MRA (thuốc đối kháng thụ thể corticoid khoáng)

d. Thuốc ức chế SGLT2.

(Khuyến cáo mạnh; mức chứng cứ trung bình)

2. Ưu tiên sử dụng thuốc liều tối ưu đã được chứng minh là có lợi trên lâm sàng. Nếu những liều này không thể đạt được thì sử dụng liều tối đa có thể dung nạp được.

(Khuyến cáo mạnh; mức chứng cứ cao)

3. Nên sử dụng ARNI (Angiotensin Receptor–Neprilysin Inhibitor) thay cho ACEI (thuốc ức chế men chuyển) hoặc ARB (thuốc chẹn thụ thể agiotensin) cho bệnh nhân suy tim EF giảm, bệnh nhân vẫn còn triệu chứng mặc dù đã điều trị nội khoa tối ưu, nhằm làm giảm triệu chứng, tử vong do biến cố tim mạch và số lần nhập viện do suy tim.

(Khuyến cáo mạnh; mức chứng cứ cao)

kc2021

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 24 Tháng 6 2021 15:37

Hở eo tử cung

  • PDF.

Bs Lê Quang Thịnh - 

Hở eo tử cung (HETC) được định nghĩa là tình trạng cổ tử cung (CTC) không có khả năng giữ thai trong tam cá nguyệt thứ hai (TCN II), nếu không có cơn go tử cung (TC). HETC chiếm tỉ lệ 1%-2% ở phụ nữ mang thai nhưng chiếm tỉ lệ 20%- 25% các trường hợp sinh non, sẩy thai liên tiếp, đặc biệt là sẩy thai vào tam cá nguyệt thứ hai. Ở những phụ nữ có tiền sử này, nguy cơ tái phát trong lần mang thai tiếp theo là dưới 30%. 

1. Sinh lý bệnh

CTC phát triển từ sự hợp nhất của các ống Müllerian được hoàn thiện khi thai được khoảng 20 tuần, bao gồm mô liên kết cơ và sợi, trong đó mô sợi liên quan đến sức căng và chịu lực của CTC. HETC liên quan đến khiếm khuyết cấu trúc chịu lực tại eo TC, nhưng cũng có thể do các rối loạn khác (ví dụ: viêm màng ối, nhiễm trùng trong TC, xuất huyết, căng quá mức TC) có thể dẫn đến CTC ngắn và hậu quả gây sinh non. 

2. Bệnh nguyên

HETC có thể xảy ra do khiếm khuyết cơ năng ở CTC, có thể do bất thường giải phẫu (dị tật Müllerian bẩm sinh), TC bị phơi nhiễm với diethylstilbestrol (DES) hoặc rối loạn collagen (hội chứng Ehlers-Danlos). Nguyên nhân mắc phải của HETC gồm chấn thương sản khoa (rách CTC), tiền sử làm thủ thuật phụ khoa hay khoét chóp bằng dao lạnh, laser, hoặc vòng LEEP. Tiền sử đình chỉ thai nghén cũng làm tăng nguy cơ sinh non, đặc biệt là đối với những phụ nữ đình chỉ thai nghén trên một lần. Tuy nhiên, nguyên nhân của HETC không rõ ở nhiều phụ nữ.

hetc1

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 13 Tháng 6 2021 20:30

Tiếp cận mới trong điều trị suy tim - đái tháo đường: Nhất cử lưỡng tiện

  • PDF.

BsCKII Trần Lâm - 

I. Giới thiệu:

Cả suy tim và đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ) đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới, mối liên quan giữa hai bệnh lý này cũng đã được biết rõ. Suy tim là biến chứng hay gặp nhất của ĐTĐ typ 2. Suy tim gặp ở 40% bệnh nhân ĐTĐ, với cả suy tim cấp và suy tim mạn. Đây là một trong những lý do nhập viện phổ biến nhất và có tiên lượng xấu.

Nhiều bằng chứng dịch tễ học đã chứng minh ĐTĐ typ 2 liên quan độc lập với nguy cơ xuất hiện suy tim, với > 2 lần ở nam giới và > 5 lần ở phụ nữ. Nghiên cứu của Rosano và cs. cho thấy, nhóm bệnh nhân ĐTĐ không bị suy tim có nguy cơ xuất hiện suy tim cao hơn so với nhóm chứng không mắc ĐTĐ (29% so với 18%).

Trong 2 thử nghiệm ngẫu nhiên gần đây nhất là VICTORIA (Vericiguat Global Study in Subjects with Heart Failure With Reduced Ejection Fraction) và EMPEROR-Reduced (Empagliflozin Outcome Trial in Patients With Chronic Heart Failure With Reduced Ejection Fraction), tỷ lệ mắc ĐTĐ typ 2 ở bệnh nhân suy tim gần 50% [1,2], cao hơn nhiều so với những nghiên cứu trước đây (24.9% trong nghiên cứu SOLVD, và 30% trong nghiên cứu EMPHASIS-HF).

Bệnh nhân suy tim kèm ĐTĐ tăng tử vong xấp xỉ 2 lần so với những người không mắc ĐTĐ. ĐTĐ làm tăng đáng kể nguy cơ tái nhập viện do suy tim và kéo dài thời gian nằm viện do suy tim. Kết quả của nghiên cứu CHARM (Candesartan in Heart failure - Assessment of Reduction in Mortality and morbidity) cho thấy, bệnh ĐTĐ liên quan với tăng gấp đôi tử vong tim mạch hoặc nhập viện do suy tim ở những người sử dụng insulin, và tăng 50% nguy cơ này ở những người không dùng insulin.

timduong

Trong điều trị, các liệu pháp điều trị suy tim, kể cả một số nhóm thuốc mới hơn, đã mang lại lợi ích cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2. Ngược lại, một số loại thuốc mới gần đây được sử dụng trong điều trị ĐTĐ typ 2 cũng đã cải thiện rõ rệt các triệu chứng suy tim, mang lại những lợi ích đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh, nhập viện, cũng như tử vong tim mạch.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 14 Tháng 6 2021 08:26

Thai ở sẹo mổ lấy thai (CESAREAN SCAR PRENANCY – CSP)

  • PDF.

Bs Ngô Thảo Vy - 

Thai ở sẹo mổ lấy thai là một dạng thai lạc chỗ hiếm gặp, do thai làm tổ trong vết sẹo mổ trên cơ tử cung trước đó, như mổ lấy thai, bóc u xơ tử cung,… Với sự gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai cùng với sự phát triển của siêu âm qua ngã âm đạo, tần suất chẩn đoán thai ở sẹo mổ lấy thai cũng tăng lên. Trường hợp CSP đầu tiên được ghi nhận vào năm 1978. Đến năm 2001 chỉ có 19 trường hợp, nhưng đến năm 2007 thì có 161 trường hợp được thống kê trong các tài liệu. Hiện nay, có hơn 1000 trường hợp đã được báo cáo. Theo Ash A và cộng sự, tần suất CSP được báo cáo là 0,04 -0,05% trên tổng số thai kỳ, chiếm 6,1% trong tất cả các trường hợp mang thai lạc chỗ ở bệnh nhân sau ít nhất một lần sinh mổ.

seomo

 

Xem tiếp tại đây

 

 

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 07 Tháng 6 2021 18:06

You are here Tổ chức Tập san Y học