• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Y học thường thức

Ảnh hưởng của thời tiết chuyển mùa, trời lạnh – độ ẩm cao đến sức khỏe mọi người

  • PDF.

Bs Trình Trung Phong – Khoa Nội A

Khuyến cáo phòng bệnh, đặc biệt đối với người cao tuổi và người có bệnh hô hấp mạn tính

Hiện nay, thời tiết đang bước vào giai đoạn chuyển mùa, nhiệt độ giảm dần, trời lạnh hơn kèm theo độ ẩm không khí tăng cao. Đây là điều kiện thuận lợi làm gia tăng các bệnh lý về đường hô hấp, tim mạch và các bệnh mạn tính, đặc biệt ở người cao tuổi, trẻ nhỏ và những người có bệnh nền. Việc chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe đúng cách trong giai đoạn này là hết sức cần thiết nhằm hạn chế các biến chứng nguy hiểm và giảm gánh nặng điều trị.

1. Ảnh hưởng của thời tiết lạnh, ẩm đến sức khỏe

Khi nhiệt độ môi trường giảm và độ ẩm không khí cao, cơ thể phải thích nghi với sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Ở người cao tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt suy giảm, hệ miễn dịch yếu hơn nên rất dễ bị ảnh hưởng.

Đối với hệ hô hấp, thời tiết lạnh và ẩm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như cảm lạnh, cúm, viêm mũi họng, viêm phế quản, viêm phổi. Đặc biệt, người mắc các bệnh hô hấp mạn tính như COPD, hen phế quản, giãn phế quản dễ bị tái phát, nặng lên với các triệu chứng ho, khò khè, khó thở, đờm nhiều.

Đối với hệ tim mạch, trời lạnh làm co mạch, tăng huyết áp, tăng gánh nặng cho tim, dễ dẫn đến các biến cố như tăng huyết áp không kiểm soát, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, nhất là ở người cao tuổi.

Ngoài ra, độ ẩm cao còn tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh trong môi trường sống, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp và các bệnh dị ứng.

Đọc thêm...

Viêm hô hấp theo Y học cổ truyền

  • PDF.

Bs Phạm Hữu Quang - 

VPDY

Xem tại đây

Liệu pháp Rezum trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt

  • PDF.

Bs Nguyễn Tiến – Khoa Ngoại Tiết niệu- Lồng ngực

Liệu pháp Rezum (Liệu pháp nhiệt hơi nước) là một phương pháp can thiệp ngoại khoa ít xâm lấn sử dụng năng lượng nhiệt từ hơi nước để làm giảm thể tích mô tuyến tiền liệt. Phương pháp này đã được đưa vào các hướng dẫn điều trị của Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) và Châu Âu (EAU) nhờ hiệu quả cải thiện triệu chứng đường tiểu dưới (LUTS) và ưu điểm vượt trội trong việc bảo tồn chức năng tình dục.

1. Cơ chế hoạt động

- Nguyên lý: Hệ thống sử dụng năng lượng tần số vô tuyến để tạo ra hơi nước từ nước vô trùng. Hơi nước được bơm trực tiếp vào vùng chuyển tiếp (transition zone) và/hoặc thùy giữa của tuyến tiền liệt thông qua một kim tiêm thu vào được tích hợp trên ống soi bàng quang.

- Tác động mô học: Khi hơi nước tiếp xúc với mô tuyến ở nhiệt độ cơ thể (37C), nó ngưng tụ lại thành nước và giải phóng một lượng nhiệt năng lớn (khoảng 540 calo/ml). Năng lượng này phân tán nhanh chóng qua các khoảng gian bào, gây biến tính màng tế bào và hoại tử tế bào ngay lập tức

- Quá trình lành thương: Theo thời gian, các mô hoại tử sẽ được cơ thể hấp thu tự nhiên thông qua đáp ứng viêm và thực bào, dẫn đến giảm thể tích tuyến tiền liệt và mở rộng niệu đạo tuyến tiền liệt.

2. Chỉ định và Lựa chọn bệnh nhân

- Nam giới có triệu chứng đường tiểu dưới (LUTS) mức độ trung bình đến nặng do BPH.

- Thể tích tuyến tiền liệt từ 30 đến 80 gram (một số nghiên cứu mở rộng lên đến 120g).

- Đặc biệt hiệu quả và được chỉ định cho cả các trường hợp có thùy giữa (lồi vào bàng quang (đây là ưu điểm so với phương pháp UroLift).

- Bệnh nhân mong muốn bảo tồn chức năng phóng tinh.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 04 Tháng 1 2026 08:22

Định lượng T4 tự do

  • PDF.

CN.Ngô Thị Hạnh Tâm - 

Thyroxine (T4) là hormone tuyến giáp chính được tiết vào máu bởi tuyến giáp. Cùng với triiodothyronine (T3) nó đóng một vai trò sống còn trong điều hòa tốc độ chuyển hóa của cơ thể, ảnh hưởng đến hệ tim mạch, chuyển hóa tăng trưởng, xương và quan trọng cho sự phát triển bình thường của chức năng sinh dục và hệ thần kinh. T4 lưu thông trong máu là một hỗn hợp cân bằng của hormone tự do và hormone liên kết protein huyết thanh. FT4 là dạng không liên kết và có hoạt tính sinh học, tương ứng với chỉ 0.03% T4 toàn phần. T4 còn lại bất hoạt và liên kết với các protein huyết thanh như globulin liên kết thyroxine (TBG), prealbumin liên kết thyroxine hoặc transthyretin (TTR) và albumin.

T4

Xem tiếp tại đây

 

 

Bệnh kháng thể lạnh và các xét nghiệm chẩn đoán

  • PDF.

CĐXN Nguyễn Văn Trai - 

Bệnh kháng thể lạnh (Cold Agglutinin Disease - CAD) là một thể lâm sàng của thiếu máu tán huyết miễn dịch tự miễn (AIHA), đặc trưng bởi các tự kháng thể (thường là IgM) có ái lực gắn kết với hồng cầu tối ưu ở nhiệt độ thấp

Bệnh được chia làm hai nhóm chính:

  • CAD nguyên phát (Primary CAD): Là một rối loạn tăng sinh lympho B đơn dòng ở mức độ thấp trong tủy xương (không phải ung thư nhưng tạo ra IgM bất thường).
  • Hội chứng kháng thể lạnh thứ phát (Cold Agglutinin Syndrome - CAS): Xuất hiện sau các tình trạng nhiễm trùng (Mycoplasma pneumoniae, EBV, CMV) hoặc các bệnh lý ác tính (Lymphoma).

​Cơ chế gây bệnh của CAD là một chuỗi phản ứng phụ thuộc vào nhiệt độ và hệ thống bổ thể: ​

Giai đoạn 1: Gắn kết tại vùng ngoại vi (< 30ºC) ​khi máu lưu thông qua các vùng cơ thể có nhiệt độ thấp (ngón tay, tai, mũi), kháng thể IgM gắn vào kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu, một phân tử IgM có thể gắn nối nhiều hồng cầu, gây ra hiện tượng ngưng kết (agglutination) ngay trong lòng mạch. ​

Giai đoạn 2: Kích hoạt bổ thể ​ngay khi IgM gắn vào, nó kích hoạt con đường bổ thể cổ điển, dẫn đến việc gắn các thành phần C3b lên màng hồng cầu. ​

Giai đoạn 3: Tán huyết tại vùng ấm (37ºC) ​khi hồng cầu quay trở lại trung tâm cơ thể, ​IgM rời đi, do nhiệt độ ấm, kháng thể IgM mất ái lực và tách khỏi hồng cầu. ​C3b ở lại, thành phần bổ thể C3b vẫn bám chặt trên màng hồng cầu. ​Tán huyết ngoại mạch các đại thực bào tại gan có thụ thể nhận diện C3b sẽ tấn công một phần màng hồng cầu (tạo thành hồng cầu hình cầu) hoặc thực bào hoàn toàn, gây tán huyết.

Bệnh thường xảy ra vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp, thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân vào viện với các triệu chứng xuất hiện phổ biến nhất là chứng xanh tím đầu chi, là hiện tượng da đổi màu từ tím sẫm đến xám khi tiếp xúc với lạnh ở các vùng đầu chi, chẳng hạn như đầu ngón tay, ngón chân, mũi và tai. Có thể gây loét da trong trường hợp nặng

Xem tiếp tại đây

 
You are here Tổ chức Y học thường thức