• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Y học thường thức

Định lượng T4 tự do

  • PDF.

CN.Ngô Thị Hạnh Tâm - 

Thyroxine (T4) là hormone tuyến giáp chính được tiết vào máu bởi tuyến giáp. Cùng với triiodothyronine (T3) nó đóng một vai trò sống còn trong điều hòa tốc độ chuyển hóa của cơ thể, ảnh hưởng đến hệ tim mạch, chuyển hóa tăng trưởng, xương và quan trọng cho sự phát triển bình thường của chức năng sinh dục và hệ thần kinh. T4 lưu thông trong máu là một hỗn hợp cân bằng của hormone tự do và hormone liên kết protein huyết thanh. FT4 là dạng không liên kết và có hoạt tính sinh học, tương ứng với chỉ 0.03% T4 toàn phần. T4 còn lại bất hoạt và liên kết với các protein huyết thanh như globulin liên kết thyroxine (TBG), prealbumin liên kết thyroxine hoặc transthyretin (TTR) và albumin.

T4

Xem tiếp tại đây

 

 

Bệnh kháng thể lạnh và các xét nghiệm chẩn đoán

  • PDF.

CĐXN Nguyễn Văn Trai - 

Bệnh kháng thể lạnh (Cold Agglutinin Disease - CAD) là một thể lâm sàng của thiếu máu tán huyết miễn dịch tự miễn (AIHA), đặc trưng bởi các tự kháng thể (thường là IgM) có ái lực gắn kết với hồng cầu tối ưu ở nhiệt độ thấp

Bệnh được chia làm hai nhóm chính:

  • CAD nguyên phát (Primary CAD): Là một rối loạn tăng sinh lympho B đơn dòng ở mức độ thấp trong tủy xương (không phải ung thư nhưng tạo ra IgM bất thường).
  • Hội chứng kháng thể lạnh thứ phát (Cold Agglutinin Syndrome - CAS): Xuất hiện sau các tình trạng nhiễm trùng (Mycoplasma pneumoniae, EBV, CMV) hoặc các bệnh lý ác tính (Lymphoma).

​Cơ chế gây bệnh của CAD là một chuỗi phản ứng phụ thuộc vào nhiệt độ và hệ thống bổ thể: ​

Giai đoạn 1: Gắn kết tại vùng ngoại vi (< 30ºC) ​khi máu lưu thông qua các vùng cơ thể có nhiệt độ thấp (ngón tay, tai, mũi), kháng thể IgM gắn vào kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu, một phân tử IgM có thể gắn nối nhiều hồng cầu, gây ra hiện tượng ngưng kết (agglutination) ngay trong lòng mạch. ​

Giai đoạn 2: Kích hoạt bổ thể ​ngay khi IgM gắn vào, nó kích hoạt con đường bổ thể cổ điển, dẫn đến việc gắn các thành phần C3b lên màng hồng cầu. ​

Giai đoạn 3: Tán huyết tại vùng ấm (37ºC) ​khi hồng cầu quay trở lại trung tâm cơ thể, ​IgM rời đi, do nhiệt độ ấm, kháng thể IgM mất ái lực và tách khỏi hồng cầu. ​C3b ở lại, thành phần bổ thể C3b vẫn bám chặt trên màng hồng cầu. ​Tán huyết ngoại mạch các đại thực bào tại gan có thụ thể nhận diện C3b sẽ tấn công một phần màng hồng cầu (tạo thành hồng cầu hình cầu) hoặc thực bào hoàn toàn, gây tán huyết.

Bệnh thường xảy ra vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp, thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân vào viện với các triệu chứng xuất hiện phổ biến nhất là chứng xanh tím đầu chi, là hiện tượng da đổi màu từ tím sẫm đến xám khi tiếp xúc với lạnh ở các vùng đầu chi, chẳng hạn như đầu ngón tay, ngón chân, mũi và tai. Có thể gây loét da trong trường hợp nặng

Xem tiếp tại đây

 

Bức tranh toàn cảnh Tim mạch thế giới năm 2025

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang - 

Giới thiệu

Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn đầy sôi động và chuyển mình mạnh mẽ của lĩnh vực tim mạch với hàng loạt cập nhật quan trọng từ các hiệp hội lớn như ACC/AHA, ESC, AHA/ASA cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và điều trị hiện đại. Bệnh tim mạch vẫn tiếp tục là nguyên nhân tử vong hàng đầu toàn cầu, song nhiều tiến bộ mới đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và kéo dài tuổi thọ người bệnh.

BUCTRANH

1. Hội chứng vành cấp (ACS)

Hội chứng vành cấp tiếp tục là tâm điểm của các hướng dẫn tim mạch năm 2025. ACC/AHA đưa ra nhiều thay đổi quan trọng, trong đó nổi bật là chiến lược điều trị hạ LDL chuyên sâu ngay từ giai đoạn sớm với PCSK9i hoặc inclisiran ở bệnh nhân nguy cơ rất cao hoặc LDL-C ≥70 mg/dL dù đã dùng statin tối đa. Bên cạnh đó, can thiệp mạch vành dưới hướng dẫn hình ảnh (IVUS hoặc OCT) được nhấn mạnh nhằm tối ưu hóa kết quả PCI và giảm biến cố tim mạch trầm trọng [1]. Những thay đổi này phản ánh xu hướng “điều trị sớm – mạnh – cá thể hóa,” nhằm cải thiện tiên lượng dài hạn cho người bệnh.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 23 Tháng 12 2025 08:34

Xét nghiệm fructosamin trong bệnh đái tháo đường

  • PDF.

CN Nguyễn Thị Thu Hồng - 

Đái tháo đường, một đại dịch toàn cầu, đang gia tăng với tốc độ đáng báo động. Trên toàn cầu, 589 triệu người lớn trong độ tuổi từ 20 đến 79 đang sống chung với bệnh đái tháo đường, tức là cứ 9 người thì có khoảng 1 người mắc bệnh. Con số này dự kiến ​​sẽ tăng lên 853 triệu vào năm 2050. Hiện nay, Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh mạn tính phổ biến nhất toàn cầu với tỉ lệ ngày càng gia tăng, trong đó hơn 90% số ca mắc là ĐTĐ type 2. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng rối loạn chuyển hóa glucid, protid và lipid do hậu quả của kháng insulin kết hợp với giảm chế tiết insulin tương đối hay tuyệt đối. Tăng glucose máu dẫn đến các biến chứng cấp tính và lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là tim, mắt, thận, thần kinh.

Kiểm soát đường máu trong điều trị đái tháo đường là yếu tố then chốt để ngăn ngừa và làm chậm tiến triển các biến chứng của bệnh. Trong quá trình điều trị, các chỉ số glucose, HbA1C và fructosamin được dùng để theo dõi và đánh giá hiệu quả việc kiểm soát đường máu.

Glucose máu phản ánh chính xác nồng độ glucose trong máu tại thời điểm lấy máu xét nghiệm nhưng không đánh giá được sự dao động của nồng độ glucose máu trong cả quá trình điều trị.

HbA1C (Hemoglobin A1C) là một chỉ số được dùng phổ biến trong theo dõi bệnh nhân đái tháo đường. HbA1C phản ánh đường máu trung bình của bệnh nhân trong thời gian khoảng 3 tháng trước đó và có ý giá trị dự đoán các biến chứng của bệnh. Tuy nhiên, HbA1C không cho phép đánh giá kiểm soát đường máu trong thời gian ngắn (2 - 3 tuần) và trong một số trường hợp nhất định xét nghiệm HbA1C không đáng tin cậy. Một ví dụ là ở những bệnh nhân mắc chứng rối loạn hồng cầu (RBC) và bệnh thận.

fructo

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 26 Tháng 11 2025 20:35

Cúm mùa: Những điều cần biết và cảnh báo đặc biệt cho người cao tuổi khi thời tiết giao mùa

  • PDF.

BS Trình Trung Phong - 

Cúm mùa là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do virus cúm (Influenza) gây ra, thường xuất hiện cao điểm vào thời điểm giao mùa, đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột. Mặc dù đa số các trường hợp cúm diễn tiến nhẹ, tự khỏi sau vài ngày, nhưng bệnh có thể trở nặng gây viêm phổi, suy hô hấp, thậm chí tử vong – nhất là ở người cao tuổi, người có bệnh nền hoặc hệ miễn dịch suy giảm. Vì vậy, việc hiểu rõ về cúm mùa để phòng tránh và phát hiện sớm dấu hiệu nguy hiểm là vô cùng quan trọng.

1. Cúm mùa là gì?

Cúm mùa do virus Influenza A hoặc B gây ra. Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc tiếp xúc gần. Thời gian ủ bệnh thường từ 1–4 ngày, khởi phát đột ngột.

Các triệu chứng thường gặp:

  • Sốt cao 38–40°C
  • Ho khan, đau họng
  • Nhức đầu, mệt mỏi toàn thân
  • Đau nhức cơ khớp
  • Chảy nước mũi, nghẹt mũi
  • Ớn lạnh

Đối với người khỏe mạnh, triệu chứng thường giảm sau 3–5 ngày; tuy nhiên, ho và mệt mỏi có thể kéo dài 1–2 tuần.

2. Vì sao người cao tuổi dễ bị cúm mùa ảnh hưởng nặng?

Người trên 60 tuổi có nhiều yếu tố làm bệnh diễn tiến nặng hơn:

  • Sức đề kháng suy giảm theo tuổi.
  • Bệnh nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, COPD, bệnh tim mạch, suy thận… khiến cơ thể khó chống lại virus.
  • Phản ứng viêm mạnh hơn, dễ gây biến chứng viêm phổi, suy hô hấp.
  • Khả năng nhận biết triệu chứng bất thường thường chậm hơn, dẫn đến nhập viện trễ.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 24 Tháng 11 2025 14:52

You are here Tin tức Y học thường thức