• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Chẩn đoán và đánh giá ban đầu viêm loét đại tràng - Một số vấn đề cần lưu ý trong thực hành lâm sàng

  • PDF.

Bs Bùi Thị Bích Liễu - 

1. Viêm loét đại tràng ( Ulcerative Colitis)

  • Một trong hai thể bệnh của bệnh viêm ruột mạn (IBD).
  • Viêm mạn tính của đại tràng và không có u hạt trên mô bệnh học.
  • Tổn thương nông: thường ở lớp niêm mạc.
  • Chỉ khu trú ở đại tràng.
  • Đặc trưng bởi những đợt lui bệnh và tái phát.
  • Tăng nguy cơ ung thư và cắt đại tràng.
  • Tỷ lệ hiện mắc và mới mắc: đang gia tăng ở châu Á.

2. Chẩn đoán viêm loét đại tràng không có tiêu chuẩn vàng

  • Thường khởi phát ở người trẻ (15-30 tuổi)
  • Lâm sàng: (> 6 tuần): chảy máu trực tràng tái phát, tiêu chảy mạn, triệu chứng khác như phân nhầy, mót rặn, tiêu gấp, sốt đau bụng.
  • Tăng marker viêm: VS, CRP, Calprotectin phân.
  • Nội soi: Viêm liên tục từ trực tràng lan dần lên.
  • Mô bệnh học: không có u hạt, cần có bác sĩ có kinh nghiệm về giải phẫu bệnh.

chdoaviem

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 05 Tháng 10 2024 10:17

Hồi sức ngừng tim chính xác dựa trên căn nguyên

  • PDF.

Bs CK1 Huỳnh Minh Thảo - 

Điểm chính:

  • Hầu hết các nguyên nhân gây ngừng tim đều thuộc nhóm đột ngột hoặc ngạt thở. Các nguyên nhân này đòi hỏi các chiến lược hồi sức và hậu hồi sức khác nhau.
  • Ngừng tim đột ngột thường là do nguyên nhân tim, và dấu hiệu đặc trưng là mất nhanh khả năng tưới máu cùng lúc hoặc trước khi ngừng thở.
  • Nguyên nhân hô hấp: ngừng thở ngạt là kết quả của tình trạng thiếu oxy tiến triển, bao gồm một giai đoạn thiếu oxy trước khi mất khả năng co bóp của tim.
  • Kết quả và nguyên nhân tử vong trong bệnh viện khác nhau giữa ngừng tim đột ngột và do nguyên nhân ngạt thở.
  • Các hướng dẫn và liệu pháp hiện tại không dựa trên nguyên nhân, nhưng việc thực hiện các điều chỉnh này có thể tối ưu hóa kết quả.

GIỚI THIỆU

Ngừng tim (CA) đã được phân loại theo một số phương tiện mô tả. Phân biệt CA ngoài bệnh viện (OHCA) với CA trong bệnh viện (IHCA) là điều điển hình trong dịch tễ học, vì nhiều đặc điểm quan trọng (ví dụ: bệnh đi kèm, thời gian hồi sức và sự hiện diện của việc theo dõi) và cuối cùng là kết quả theo dõi rõ ràng trong các nhóm này. Sau đặc điểm này, CA thường được phân loại theo nhịp điệu biểu hiện. Điều này hữu ích về mặt thực tế, vì nó hướng dẫn hồi sức và sử dụng (hoặc không sử dụng) phiên bản tim mạch, và theo dõi lỏng lẻo với nguyên nhân. Tuy nhiên, nguyên nhân hiếm khi được đưa lên hàng đầu. Trong phần Thống kê về bệnh tim và đột quỵ của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) năm 2019 dành riêng cho CA, nguyên nhân xuất hiện 4 lần, chỉ trong các tài liệu tham khảo. Việc xuất bản các số liệu thống kê này năm 2020 là lần đầu tiên một hình ảnh được cung cấp mô tả nguyên nhân của OHCA và IHCA. Sử dụng cùng dữ liệu này, được lấy từ Sổ đăng ký ngừng tim của Đại học Pittsburgh, các tác giả mô tả nguyên nhân của CA và chia hầu hết các trường hợp thành 2 nhóm. 

Xem tiếp tại đây

Hạ phosphate máu ở bệnh nhân nặng

  • PDF.

Bs Huỳnh Ngọc Long Vũ - 

1. Vai trò của phosphate trong cơ thể

Phosphate là anion nội bào chính của tế bào cơ thể người, và là một phần không thể thiếu của nhiều quá trình chuyển hoá bên trong tế bào. Năng lượng có được từ thực phẩm hoặc dị hoá nội sinh được lưu trữ dưới dạng liên kết phosphat giàu năng lượng (adenosine triphosphate, creatinine phosphate,…). Phốtphát là một thành phần thiết yếu của DNA và RNA, màng tế bào, các chất trung gian hoá học, 2,3-diphospho- glycerate trong các tế bào hồng cầu và hydroxyapatite trong xương. Bên cạnh đó, quá trình phosphoryl hóa và khử phosphoryl hóa thông qua các hoạt động của nhiều kinase, phosphatase rất quan trọng trong việc điều chỉnh chức năng protein, cũng như trong chuyển hóa carbonhydrate. Thận là cơ quan điều hoà cân bằng nội môi phosphate chính, thông thường 80–90% phosphate được tái hấp thu và phần còn lại được bài tiết qua nước tiểu.

Thiếu phosphate không nhất thiết biểu hiện ở sự giảm phospho máu vì chỉ 1% phospho ở ngoại bào, chủ yếu ở dạng phospho vô cơ có thể định lượng được (Pi). Nhưng trong phần lớn trường hợp, hạ phosphate máu biểu hiện sự thiếu hụt phosphate của toàn bộ cơ thể và phản ánh sự rối loạn chức năng của cân bằng nội môi.

Đọc thêm...

Tiếp cận xử trí rối loạn nhịp nhanh tại Cấp Cứu

  • PDF.

Bs Lê Văn Thành - 

nhip1

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 03 Tháng 10 2024 16:43

Áp xe não

  • PDF.

Bs Trần Thanh Tịnh - 

I. Đại cương

1. Định nghĩa:

Áp xe não được định nghĩa là những ổ nhiễm khuẩn khu trú trong nhu mô não do nhiều tác nhân gây nên. Thường gặp nhất là do vi khuẩn, ít gặp hơn như nấm, ký sinh vật. Áp xe não chiếm 8% tổng số khối choán chỗ trong sọ, đây là một trong số ít bệnh lý choán chỗ trong sọ có thể chữa khỏi hoàn toàn. Chẩn đoán và điều trị áp xe não đã có nhiều sự tiến bộ trong những năm qua nhờ sự áp dụng các kỹ thuật hiện đại như chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, cộng hưởng từ khuếch tán, định vị, neuronavigation và kháng sinh hiệu quả. Áp xe não chủ yếu được điều trị khỏi bằng phẫu thuật, nhất là phẫu thuật chọc hút. Điều trị nội được sử dụng khi áp xe còn nhỏ hay điều trị nội sau khi phẫu thuật.

2. Tác nhân gây bệnh:

Vi khuẩn gây áp xe não có thể là vi khuẩn ái khí hay kỵ khí. Trước thời kỷ 1980, phần lớn các tác giả cho rằng áp xe não chủ yếu do vi khuẩn ái khí nhưng ngày nay, tỷ lệ vi khuẩn kỵ khí gây áp xe não cao ngang bằng với vi khuẩn ái khí. Nhiều nghiên cứu cho thấy vi khuẩn kỵ khí được phân lập ở 40%-80% bệnh phẩm mủ áp xe não. Theo hầu hết các nghiên cứu, liên cầu chiếm (30%-45%), sau đó là tụ cầu (25%-30%), ít gặp hơn là E.coli, Proteus, Enterobacter... Vi khuẩn kỵ khí hay gặp nhất là liên cầu kỵ khí (Peptostreptococcus), Bacteroides....

apxenao

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 03 Tháng 10 2024 16:45

You are here Khám bệnh Đào tạo nhân viên BV