• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Cấy máu

  • PDF.

CN Nguyễn Văn Thọ - 

Cấy máu là kỹ thuật xét nghiệm y khoa dùng để phát hiện vi khuẩn hoặc vi nấm trong máu của người bệnh.Trong điều kiện bình thường, máu không chứa vi sinh vật. Sự hiện diện của chúng trong máu có thể chỉ ra tình trạng nhiễm trùng máu như: nhiễm khuẩn huyết hoặc nhiễm nấm huyết. Bằng cách nuôi cấy máu, vi khuẩn có thể được xác định và xét nghiệm khả năng kháng thuốc kháng sinh, cho phép bác sĩ lâm sàng đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả.

Để thực hiện xét nghiệm, máu được lấy vào các lọ chứa môi trường dinh dưỡng dạng lỏng giúp tăng cường sự phát triển của vi khuẩn, được gọi là môi trường nuôi cấy. Thông thường, hai lọ được thu thập trong một lần cấy máu, một lọ được thiết kế cho các sinh vật hiếu khí cần oxy và lọ thứ hai lọ dành cho các sinh vật kỵ khí không cần oxy. Hai lọ này được gọi là một bộ cấy máu. Đôi khi, hai bộ cấy máu được thu thập từ hai vị trí lấy máu khác nhau. Nếu một sinh vật chỉ xuất hiện ở một trong hai bộ, thì khả năng cao là nó bị nhiễm hệ vi khuẩn trên da hơn là nhiễm trùng máu thực sự. Kết quả âm tính giả có thể xảy ra nếu mẫu được lấy sau khi người đó đã dùng thuốc kháng sinh hoặc nếu lọ không chứa đủ lượng máu được khuyến nghị từ nhà sản xuất. Một số sinh vật không phát triển tốt trong nuôi cấy máu và cần các kỹ thuật đặc biệt để phát hiện.

Các chai cấy máu được đặt vào máy cấy máu trong vài ngày để các sinh vật phát triển. Nếu phát hiện thấy sự phát triển của vi khuẩn, một phiến đồ nhuộm Gram được tiến hành từ chai nuôi cấy để xác nhận rằng các sinh vật có mặt và cung cấp thông tin sơ bộ về danh tính của chúng. Sau đó, máu được cấy chuyển lại, nghĩa là máu được cấy lên một đĩa thạch để phân lập các khuẩn lạc vi khuẩn để xác định đầy đủ và thử nghiệm khả năng nhạy cảm với thuốc kháng sinh. Vì nhiễm trùng máu cần được chẩn đoán và điều trị nhanh chóng, nên các phương pháp xét nghiệm nhanh đã được phát triển bằng cách sử dụng các công nghệ như phản ứng chuỗi polymerase và MALDI-TOF MS .

caymau

Hình ảnh Hệ thống máy cấy máu tự động BD Bactec FX40 tại Khoa Vi Sinh Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam

Xem tiếp tại đây

Phẫu thuật điều trị gãy thân xương đòn bằng đường mổ tối thiểu tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình-Bỏng-PHCN, Bệnh viện đa khoa Quảng Nam

  • PDF.

Bs CKI Trần Phước Việt - 

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

Gãy thân xương đòn là một loại gãy xương thường gặp, có thể điều trị bằng bảo tồn hoặc phẫu thuật

Ngày nay đi kèm với sự phát triển của y học, ngày càng có nhiều phương pháp điều trị phẫu thuật được áp dụng để mang đến sự phục hồi tốt nhất cho người bệnh.

Tại Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình- Bỏng và PHCN đang áp dụng phương pháp điều trị gãy thân xương đòn bằng đường mổ tối thiểu giúp tăng khả năng lành xương, hạn chế được các biến chứng nhiễm trùng, tê bì vùng da trước xương đòn. Đường rạch da tối thiểu còn giúp vết thương nhanh lành, sẹo mổ nhỏ mang tính thẩm mỹ cao.

xuongdon

Xem tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 23 Tháng 2 2025 11:15

Giảm tiểu cầu do heparin (tiếp theo)

  • PDF.

CN. Trịnh Ngọc Phước – 

Xét nghiệm HIT

Điểm đánh giá lâm sàng trước khi xét nghiệm của 4T hoặc HEP sẽ hướng dẫn bác sĩ lâm sàng thực hiện bước tiếp theo: xét nghiệm trong phòng thí nghiệm. Có hai loại xét nghiệm trong phòng thí nghiệm chung để chẩn đoán HIT: xét nghiệm miễn dịch và xét nghiệm chức năng. Xét nghiệm miễn dịch là bước đầu tiên và hoạt động như một xét nghiệm sàng lọc để loại trừ HIT. Tiếp theo, xét nghiệm chức năng thiết lập chẩn đoán.

Xét nghiệm miễn dịch đo kháng thể chống lại phức hợp PF4-heparin và là xét nghiệm đầu tiên cho HIT. Xét nghiệm ELISA (xét nghiệm miễn dịch hấp thụ liên kết với enzyme PF4/heparin) là xét nghiệm miễn dịch thường được sử dụng; những xét nghiệm khác bao gồm xét nghiệm miễn dịch gel hạt, xét nghiệm dòng chảy, xét nghiệm dựa trên latex tự động và xét nghiệm dựa trên phát quang hóa học tự động. Xét nghiệm miễn dịch dễ tiếp cận, có độ nhạy cao (97%), và cung cấp kết quả nhanh chóng, trở thành công cụ sàng lọc hợp lý cho những bệnh nhân nghi ngờ mắc HIT. Xét nghiệm miễn dịch bị ảnh hưởng bởi độ đặc hiệu kém khác nhau trong khoảng 30–80% tùy thuộc vào xét nghiệm. Nếu xét nghiệm miễn dịch dương tính, cần phải xét nghiệm thêm để xác nhận chẩn đoán, thường là bằng xét nghiệm chức năng.

giamtc

Xem tiếp tại đây

Sử dụng steroid ở bệnh nhân có chèn ép tủy sống do di căn

  • PDF.

Bs Trịnh Thị Lý - 

chentuy

Xem tại đây

 

Quản lý đường thở không xâm lấn ở bệnh nhân hôn mê do ngộ độc cấp

  • PDF.

Bs Đinh Thị Vi - 

Những điểm chính

- Câu hỏi: Ở những bệnh nhân nghi ngờ bị ngộ độc và điểm Glasgow Coma Scale dưới 9, liệu chiến lược bảo tồn đường thở bằng cách không đặt nội khí quản có liên quan đến việc giảm tử vong, thời gian nằm ICU và thời gian nằm viện so với thực hành thông thường hay không?

- Phát hiện: Trong thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên này bao gồm 225 bệnh nhân, chiến lược không đặt nội khí quản có liên quan đến lợi ích lâm sàng đáng kể đối với mục tiêu chính ở nhóm can thiệp, với tỷ lệ thành công là 1,85 và tỷ lệ rủi ro biến cố bất lợi giảm (6% so với 14,7%; chênh lệch rủi ro tuyệt đối là 8,6%) so với nhóm đối chứng.

- Ý nghĩa: Trong số những bệnh nhân hôn mê nghi ngờ bị ngộ độc cấp tính, chiến lược bảo tồn là không đặt nội khí quản có liên quan đến lợi ích lâm sàng lớn hơn đối với tiêu chí cuối cùng là tử vong trong bệnh viện, thời gian nằm ICU và thời gian nằm viện.

Tóm tắt

- Tầm quan trọng: Đặt nội khí quản được khuyến cáo cho bệnh nhân hôn mê và chấn thương não nghiêm trọng, nhưng việc sử dụng nó cho những bệnh nhân bị suy giảm ý thức do ngộ độc cấp tính vẫn chưa chắc chắn.

- Mục tiêu: Xác định tác động của việc không đặt nội khí quản so với thực hành thường quy đối với kết quả lâm sàng của bệnh nhân hôn mê do ngộ độc cấp tính và có điểm Glasgow dưới 9.

honme

Xem tiếp tại đây

You are here Khám bệnh Đào tạo nhân viên BV