• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Cập nhật chẩn đoán điều trị co thắt tâm vị theo khuyến cáo của Hội tiêu hoá Châu Âu 2020

  • PDF.

Bs Bùi Thị Bích Liễu - 

TỔNG QUAN ĐỊNH NGHĨA, DỊCH TỄ, TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

1. Định nghĩa và tình hình dịch tễ:

Co thắt tâm vị là một bệnh lý hiếm gặp, đặc trưng bởi tình trạng mất vận động thực quản và giảm khả năng giãn của cơ thắt thực quản dưới (LES).

Dịch tễ:

  • Tỷ lệ mới mắc hằng năm ước tính: 1,1-2,2/ 100000 người.
  • Tỷ lệ hiện mắc chung: 10-15,7/100000 người.
  • Nam= Nữ
  • Độ tuổi 25-60 tuổi

2. Triệu chứng lâm sàng:

  • Nuốt nghẹn: bệnh nhân thường than phiền nhiều nhất về triệu chứng nuốt nghẹn với cả thức ăn lỏng và thức ăn đặc. Nuốt nghẹn trong co thắt tâm vị không xuất hiện tuần tự từ thức ăn đặc đến thức ăn lỏng như với bệnh lý ung thư thực quản mà xuất hiện đồng thời, ngẫu nhiên với cả các loại thức ăn lỏng và đặc. Triệu chứng nuốt khó cũng không xuất hiện liên tục trong suốt đời sống của người bệnh.
  • Đau ngực: đau ngực âm ỉ vùng phía sau xương ức tương ứng với đường đi của thực quản trong lồng ngực. Đau ngực tăng lên sau khi nuốt, do thức ăn ứ đọng lâu ngày ở thực quản.
  • Trào ngược dạ dày thực quản, ợ hơi, ợ chua, hơi thở có mùi do thức ăn cũ tồn đọng trong thức quản.
  • Sụt cân, suy kiệt: khi co thắt tâm vị tiến triển kéo dài nhưng không được phát hiện và điều trị, người bệnh dễ trở nên gầy gò và suy kiệt do thức ăn không xuống được dạ dày để được tiêu hóa và hấp thu.
  • Biểu hiện tại đường hô hấp: khi thức ăn trào ngược vào đường hô hấp, người bệnh có thể có các biểu hiện ngoài đường tiêu hóa như ho, khó thở, đau ngực tăng lên, sốt cao trong bối cảnh viêm phổi hoặc áp xe phổi.

cothattamvi

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 27 Tháng 12 2024 10:47

Gold 2025 và một vài điểm mới

  • PDF.

Bs Hồ Thị Thúy Hằng – 

COPD là một trong ba nguyên nhân tử vong trên thế giới và 90% tử vong ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Hơn 3 triệu bệnh nhân tử vong năm 2012 chiếm 6% tử vong do mọi nguyên nhân trên thế giới. COPD là một thách thức sức khỏe toàn cầu, có thể phòng và điều trị được. COPD là nguyên nhân chính gây tàn phế mạn tính và tử vong trên toàn thế giới, rất nhiều người có thể tử vong sớm do bệnh và biến chứng. Ngày nay gánh nặng toàn cầu COPD được dự đoán sẽ tăng trong những thập kỷ tới do tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ COPD và sự già hóa của dân số.

gold2025

Xem tiếp tại đây

Viêm đại tràng do bạch cầu ái toan

  • PDF.

Bs. Trần Thị Minh Thịnh - 

ĐẠI CƯƠNG

Bệnh lý đường tiêu hóa tăng bạch cầu ái toan là một tình trạng hiếm gặp được đặc trưng bởi sự xâm nhập bất thường của bạch cầu ái toan vào niêm mạc đường tiêu hóa. Nó có thể được chia thành viêm thực quản, viêm dạ dày ruột và viêm đại tràng. Viêm đại tràng tăng bạch cầu ái toan (EoC) có thể là nguyên phát, không có nguyên nhân rõ ràng về thâm nhiễm bạch cầu ái toan hoặc thứ phát do một nguyên nhân đã xác định.

Viêm đại tràng do bạch cầu ái toan là bệnh lý tương đối phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 2 tuổi, nhưng hiếm gặp hơn (một vài trường hợp cá biệt) và ít được nghiên cứu ở người lớn. Trong một nghiên cứu dịch tễ học hồi cứu quy mô lớn được thực hiện ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc viêm bạch cầu ái toan là 3,7/100.000 và tỷ lệ mắc viêm bạch cầu ái toan nguyên phát là 2,4/100.000 dân. Con số viêm bạch cầu ái toan gần như chắc chắn bị đánh giá thấp vì nó chưa được hiểu rõ, mặc dù tần suất xuất hiện của nó có thể tăng lên trong những năm gần đây.

Việc chẩn đoán viêm bạch cầu ái toan hiện đặt ra 2 vấn đề lớn liên quan đến sự thiếu đồng thuận về mức độ sinh lý của viêm bạch cầu ái toan ở niêm mạc đại tràng bình thường và tiêu chuẩn chẩn đoán mô học của bệnh.

Mặc dù nguyên nhân và sinh lý bệnh của bệnh vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng vai trò của các chất gây dị ứng là không thể phủ nhận, vì dị ứng có thể gặp ở hơn 3/4 số trường hợp viêm đại tràng do bạch cầu ái toan.

viemdt

Hình 1. Đại tràng ngang khi nội soi đại tràng bệnh nhân bị viêm đại tràng tăng bạch cầu ái toan có biểu hiện niêm mạc bất thường với việc mất mạch máu (phù nề), ban đỏ và loét aphthous.

Xem tiếp tại đây

Chỉ định chụp cộng hưởng từ tuyến vú

  • PDF.

BS Phan Tuấn Kiệt – 

Cùng với nhũ ảnh (mammography) và siêu âm, cộng hưởng từ (MRI:  Magnetic Resonance Imaging) là một công cụ có giá trị trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú. Với độ nhạy 98% - 100%, MRI vú là phương tiện hình ảnh nhạy nhất phát hiện ung thư.

Dựa trên các hướng dẫn của American College of Radiology và the European Society of Breast Imaging, các chỉ định cộng hưởng từ tuyến vú như sau:

Tầm soát ở bệnh nhân nguy cơ cao

Tất cả bệnh nhân có nguy cơ cao mắc ung thư vú nên chụp MRI ngoài chụp nhũ ảnh và siêu âm. Bệnh nhân có nguy cơ cao cũng có xu hướng mắc ung thư vú ở độ tuổi trẻ hơn, có mô vú dày đặc hơn và có nhiều khả năng mắc ung thư mức độ cao hơn. Chụp nhũ ảnh thường không được chỉ định cho phụ nữ dưới 35 tuổi do lo ngại về bức xạ và mật độ mô cao. Độ nhạy của chụp nhũ ảnh ở bệnh nhân có mô vú dày đặc có thể thấp tới 40%. Ngược lại, chụp cộng hưởng từ không liên quan đến bức xạ và phần lớn không bị cản trở bởi mô dày đặc.

mri vu

(a) Nhũ ảnh thế MLO vú trái người phụ nữ 38 tuổi mang gen dễ mắc ung thư vú, mô vú dày đặc không đồng nhất nhưng không có dấu hiệu ung thư rõ ràng. (b) Hình MRI ở cùng bệnh nhân cho thấy một vùng bắt thuốc không tạo khối rộng 4 cm vú trái (mũi tên). Mô học: Ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ mức độ cao.

Đọc thêm...

Rối loạn khớp thái dương hàm, nguyên nhân và điều trị

  • PDF.

Bs Phan Văn Long - 

I.TỔNG QUAN

Rối loạn khớp thái dương hàm (Temporomandibular Disorder, gọi tắt là TMD) là nhóm các rối loạn của hệ thống nhai, bao gồm các rối loạn về cơ, rối loạn khớp và rối loạn của các mô liên quan. TMD là nguyên nhân phổ biến thứ hai (chỉ sau đau răng) trong các chứng đau vùng miệng mặt, có nguy cơ cao trở thành mạn tính, và gây ảnh hưởng đáng kể lên chất lượng cuộc sống.

Khớp thái dương hàm là khớp kết nối giữa xương hàm dưới và xương thái dương của hộp sọ. Nhờ khớp và hệ thống cơ nhai xương hàm dưới có thể di chuyển lên trên, xuống dưới, sang bên trong động tác nhai, nuốt, nói.

Tỉ lệ mắc TMD trên các nước đã được thống kê dao động từ 6 đến 30% dân số. Ở Mỹ, tỉ lệ mắc mới hàng năm của TMD lên đến 3-4%, gặp nhiều ở nữ hơn nam với tỉ lệ 1,3/1. Tỉ lệ mắc mới có xu hướng tăng dần theo tuổi đến năm 45 tuổi, sau đó giảm dần. Trong tất cả các ca mắc mới, chỉ có 12% là khỏi hoàn toàn, 65% có tái phát, trong khi 19% tiến triển thành mạn tính.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 23 Tháng 12 2024 14:50

You are here Khám bệnh Đào tạo nhân viên BV