• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chào mừng 67 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/02 – Kỷ niệm 25 năm thành lập BVĐK tỉnh Quảng Nam 1997-2022 – Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam khánh thành KHU XẠ TRỊ GIA TỐC TUYẾN TÍNH

Đề tài NCKH

Nhân một trường hợp che phủ khuyết hổng phần mềm vùng chẩm sau bỏng điện bằng vạt cơ thang

  • PDF.

Bs CKI Nguyễn Minh Tú - Khoa Ngọai CT

I. ĐẠI CƯƠNG:

Vạt cơ thang đầu tiên được giới thiệu bởi Demengasso và Piazza từ 1979  được sử dụng cho đến nay, chỉ định trong các trường hơp che phủ khuyết hổng phần mềm vùng đầu, mặt, cổ với tỷ lệ thành công lớn, ít biến chứng và thẩm mỹ cao.

1. Giải phẫu cơ thang: Cơ thang là cơ lớn, nằm nông ở lưng gồm có 3 bó.

- Bó trên: Từ ụ chẩm ngoài, 1/3 trong đường gáy trên,dây chằng gáy, bám tận bờ sau  1/3 ngoài xương đòn, cấp máu bởi động mạch chẩm và nhánh xuyên của động mạch cột sống

- Bó giữa: Từ mỏm gai 7 đốt sống cổ C1 đến C7 và 3 đốt sống ngực T1, T2, T3 bám tận bờ trong mỏm cùng vai và bờ sau gai vai, cấp máu bởi nhánh xuyên của động mạch cổ ngang

- Bó dưới: Từ mỏm gai T4 đến T12 chạy ra ngoài đến gần xương vai và bám vào lớp cân mạc, cấp máu bởi động mạch lưng vai và nhánh xuống của động mạch cổ ngang

minhtu1

Hình 1.1 Giải phẩu cơ thang

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 24 Tháng 3 2014 12:41

Điều trị gãy bong điểm bám chày của dây chằng chéo trước khớp gối bằng chỉ PDS néo ép qua nội soi

  • PDF.

Bs CKII Nguyễn Tam Thăng, Bs Đỗ Xuân Quang

TÓM TẮT

1.Đặt vấn đề: Gãy bong điểm bám chày DCCT là một trong những tổn thương thường gặp của chấn thương vùng gối. Phẫu thuật nội soi đính chỗ bám DCCT qua nội soi hiện nay vẫn là phương pháp có nhiều ưu điểm, hạn chế rất lớn các biến chứng ảnh hưởng tới khớp gối. Tại khoa ngoại chấn thương bệnh viện Quảng Nam đã bước đầu triển khai kỹ thuật này. 2.Mục tiêu: đánh giá kết quả liền xương và chức năng khớp gối sau phẫu thuật. 3.Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu gồm 12 bệnh nhân được chẩn đoán gãy bong điểm bám chày DCCT bằng lâm sàng, X-quang. Được chỉ định phẫu thuật cố định chỗ bám chày DCCT sau khi loại trừ chống chỉ định phẫu thuật. 4. Kết quả - Kết luận: 12 BN bị gãy bong điểm bám chày DCCT được phẫu thuật nội soi cố định chỗ bám trong thời gian từ 1/2012-10/2013. Thời gian theo dõi trung bình 5 tháng, phục hồi vững gối cải thiện so với trước mổ: dấu Lachman có tỉ lệ đạt tốt (độ 0) là 91,7% , khá (độ 1) 8,3%. Điểm số Lysholm điểm trung bình trước mổ là 44,17 ± 6,59 và sau mổ là 88,83 ± 9,86 với tỉ lệ tốt và rất tốt đạt 91,7%, trung bình 8,3%. Biến chứng: Đau phía trước xương bánh chè có 2 BN với tỉ lệ là 16,7%. Tê dị cảm phía trước cẳng chân có 1 BN với tỉ lệ 8,3%. Phẫu thuật cố định chổ bám chày DCCT bằng chỉ PDS qua nội soi là phương pháp an toàn, hiệu quả giúp bệnh nhân phục hồi lại chức năng và độ vững khớp gối.

DCCT1

Xem toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 05 Tháng 3 2014 18:44

Đánh giá kết quả bước đầu điều trị ung thư đại tràng bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Ths Bs Nguyễn Tải - Khoa Ngoại TH

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt đại tràng nội soi trong điều trị ung thư đại tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 07 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến đại tràng được cắt đại tràng bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 06/2009 đến tháng 01 năm 2011 tại Khoa Ngoại Tổng hợp bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu một số đặc điểm chung, đặc điểm cận lâm sàng và kết quả sớm cũng như theo dõi ngắn hạn của các bệnh nhân được phẫu thuật.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là 52,7 tuổi, tỉ lệ nam/nữ là 2,5. Tỉ lệ chuyển mổ mở là 14,3%, không có tai biến trong mổ và tỉ lệ biến chứng sau mổ là 28,6% (một trường hợp nhiễm trùng vết mổ, một trường hợp tắc ruột sớm sau mổ). Thời gian phẫu thuật trung bình là 185 phút, thời gian nằm viện trung bình là 15,6 ngày. Với thời gian tái khám trung bình 6 tháng, không có bệnh nhân nào tử vong, chưa phát hiện tái phát tại chỗ và di căn lỗ trocar.

Kết luận: cắt đại tràng qua  nội soi ổ bụng có  hỗ  trợ trong ung thư đại tràng là kỹ thuật khả thi và an toàn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam. 

DSCN2751

Xem toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 22 Tháng 2 2014 16:01

Đánh giá hiệu quả gây mê mask thanh quản trong phẫu thuật vùng bụng

  • PDF.

CN Trần Thị Thủy - Gây mê Hồi sức

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

            Trong gây mê phẫu thuật, việc đảm bảo thông khí tốt là vấn đề quan trọng. Gây mê NKQ là phương pháp kiểm soát hô hấp hữu hiệu và chắc chắn. Tuy nhiên việc đặt NKQ cũng làm cho mạch nhanh, huyết áp tăng, đau họng, nuốt đau, khàn tiếng... Năm 1981, BS Gây mê Archie Brain người Anh đã phát minh ra Mask thanh quản (MTQ) và đưa vào sử dụng năm 1983. Từ đó đến nay MTQ đã được cải tiến nhiều lần và có nhiều loại MTQ đã chính thức đưa vào phát đồ kiểm soát đường thở khó, đặc biệt trong tình huống: “không đặt NKQ được, không thông khí được”, cho nên chúng tôi áp dụng gây mê MTQ trong phẫu thuật vùng bụng, bởi nó đem lại tính an toàn về hô hấp - tuần hoàn cho người bệnh. 

maskTQ1

Mời các bạn xem toàn văn tại đây

Tình hình băng huyết sau sanh phải truyền máu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam năm 2012

  • PDF.

Khoa Sản

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 500 ngàn phụ nữ chết hàng năm liên quan đến thai nghén và sanh đẻ, 99% trường hợp xảy ra ở các nước đang phát triển, trong số đó có 150.000 ca chết vì băng huyết sau sanh (BHSS) chiếm 25% tử vong mẹ. BHSS có thể xảy ra ngay sau sanh hay trễ hơn, có thể chảy máu ồ ạt, hay chảy máu kéo dài. Theo TS Vũ Thị Nhung (TP.HCM): "Trong số khoảng 30.000 sản phụ sinh tại Bệnh viện Hùng Vương mỗi năm, băng huyết sau sanh chiếm tỷ lệ từ 1,5%-2%, trong đó có 35% phải truyền máu". Theo thống kê Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM): "Băng huyết sau sanh là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, chiếm tỷ lệ từ 2%-10% tổng số ca. Khảo sát trong nhiều năm liền tại Bệnh viện Từ Dũ, mỗi năm có ít nhất 100 trường hợp sản phụ bị băng huyết sau sinh trong tình trạng nặng".

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam, BHSS chiếm tỉ lệ cao nhất trong 5 tai biến sản khoa, trong đó BHSS nặng vẫn thường là mối nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và sức khỏe sản phụ. Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tàì “Tình hình BHSS phải truyền máu năm 2012 tại  Bệnh viện Quảng Nam” với 2 mục tiêu:

  1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của các ca BHSS nặng cần truyền máu.
  2. Nghiên cứu các nguyên nhân gây BHSS và nhận xét các phương pháp xử trí BHSS cần truyền máu.

bhss1

Xem tiếp toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 21 Tháng 12 2013 21:07

You are here Đào tạo Đề tài NCKH