• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

THỰC HIỆN 5 K (KHẨU TRANG- KHỬ KHUẨN-KHOẢNG CÁCH-KHÔNG TỤ TẬP-KHAI BÁO Y TẾ) PHÒNG CHỐNG COVID --- HÃY GIỮ AN TOÀN CHO BẠN VÀ CHÚNG TA TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID-19 --- BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NAM ĐÃ TRIỂN KHAI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH QUA SỐ ĐIỆN THOẠI 1900.969646 VÀ QUA TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA BV TẠI MỤC ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH ONLINE

Đào tạo NCKH

Đột quỵ thầm lặng - những điều cần biết

  • PDF.

Bs CKII Trần Lâm - 

Giới thiệu: Bệnh mạch máu não thầm lặng (silent cerebrovascular disease) hay còn gọi là Đột quỵ thầm lặng (silent stroke), là cơn đột quỵ không có bất kỳ triệu chứng bên ngoài nào liên quan đến đột quỵ, và bệnh nhân thường không biết mình đã bị đột quỵ. Trong một nghiên cứu lớn ở Mỹ vào năm 1998, ước tính có gần 12 triệu người bị đột quỵ, khoảng 770.000 ca trong số này có triệu chứng và 11 triệu ca là đột quỵ thầm lặng lần đầu phát hiện trên MRI. Như vậy, tỷ lệ đột quỵ thầm lặng vượt quá tỷ lệ đột quỵ có triệu chứng [1,3].

Sau hơn 2 thập kỷ nghiên cứu, người ta nhận thấy đột quỵ thầm lặng gặp khá phổ biến; mặc dù không gây ra các triệu chứng dễ nhận biết, nhưng một cơn đột quỵ thầm lặng vẫn khiến bệnh nhân tăng nguy cơ bị thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA), đột quỵ lớn và sa sút trí tuệ trong tương lai. Đột quỵ thầm lặng thường do các tổn thương não được phát hiện thông qua việc sử dụng hình ảnh học thần kinh như MRI. Do tỷ lệ mắc bệnh cao nên đột quỵ thầm lặng là phát hiện tình cờ thường gặp nhất trên hình ảnh MRI não [2].

Nguy cơ đột quỵ thầm lặng tăng lên theo tuổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến người trẻ tuổi. Phụ nữ dường như có nhiều nguy cơ bị đột quỵ thầm lặng.

3 biểu hiện cơ bản của đột quỵ thầm lặng là nhồi máu não thầm lặng, tổn thương chất trắng do nguyên nhân mạch máu, và chảy máu não vi thể [1] (hình 1).

dotquytl1

Hình 1: Nhồi máu não thầm lặng (trái), tăng tín hiệu chất trắng (giữa) và chảy máu não vi thể (phải) trên hình ảnh MRI não

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 20 Tháng 4 2021 15:47

Đọc thêm...

Các tác động sinh lý của thông khí nhân tạo

  • PDF.

Bs Trần Trung Việt - 

ÁP LỰC ĐƯỜNG THỞ TRUNG BÌNH

Những tác dụng có lợi và có hại của thở máy có liên quan đến áp lực đường thở trung bình.

Áp suất đường thở trung bình = áp suất trung bình áp dụng cho đường thở trong toàn bộ chu kỳ thông khí.

Để hiểu đầy đủ về áp lực đường thở trung bình, trước tiên chúng ta cần làm rõ áp lực bình thường của phổi trong cả quá trình hít vào và thở ra.

Trong nhịp thở tự nhiên bình thường, áp lực trong lồng ngực âm tính trong suốt chu kỳ hô hấp. Áp lực trong khoang màng phổi biến đổi từ khoảng – 5 cmH2O trong thì thở ra đến -8 cmH2O trong thì hít vào. Áp lực phế nang dao động từ +1 cmH2O trong thì thở ra đến – 1cmH2O trong thì hít vào.

tdsinhly1

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 17 Tháng 4 2021 08:00

Đọc thêm...

Hóa trị toàn thân cho bệnh ung thư ở người lớn tuổi (p.2)

  • PDF.

Bs Trần Quốc Dũng - 

V. CÁC BỆNH UNG THƯ ĐẶC BIỆT

Tuổi của bệnh nhân ảnh hưởng đến sự phát triển sinh học của một số khối u ác tính. Ví dụ, bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (acute myeloid leukemia) (AML) và u lympho không Hodgkin (non- Hodgkin lymphoma) (NHL) có tiên lượng kém hơn ở người lớn tuổi so với những người trẻ tuổi. Ngược lại, ung thư vú ở người lớn tuổi có tiên lượng tốt hơn.

1. Ung thư vú

Phương pháp điều trị toàn thân đối với ung thư vú, vừa là điều trị bổ trợ vừa điều trị bệnh di căn, có thể được áp dụng thành công ở phụ nữ lớn tuổi. Điều trị như vậy cần phải xem xét cả tình trạng chung của bệnh nhân và những khác biệt tiềm ẩn trong tiền sử bệnh nhân.

a. Điều trị bổ trợ

  • Cả điều trị nội tiết tố toàn thân và hóa trị đều có thể có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ung thư vú giai đoạn đầu ở người lớn tuổi. Ngoài thời gian sống còn, bệnh đi kèm và tình trạng chức năng ​​của bệnh nhân, di căn hạch bạch huyết khu vực, kích thước khối u nguyên phát, mô bệnh học, tình trạng thụ thể estrogen và progesterone, và có hay không biểu hiện của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô ở người 2 (HER2)/neu tất cả phải được xem xét khi đưa ra các khuyến nghị cụ thể.
  • Các vấn đề xung quanh việc sử dụng liệu pháp bổ trợ cho bệnh ung thư vú ở phụ nữ lớn tuổi được thảo luận riêng. 

b. Bệnh di căn

  • Quản lý ung thư vú di căn ở phụ nữ> 65 tuổi tuân theo các nguyên tắc tương tự như ở phụ nữ trẻ, với một số ngoại lệ. Giống như phụ nữ trẻ, bệnh nhân lớn tuổi khó có thể chữa khỏi bệnh di căn và mục tiêu của liệu pháp là giảm nhẹ hơn là chữa khỏi bệnh.
  • Do tần suất biểu hiện thụ thể hormone cao hơn và xu hướng phát triển khối u chậm chạp hơn, phụ nữ lớn tuổi có tình trạng thụ thể hormone không rõ và không mắc bệnh đe dọa tính mạng hoặc tiến triển nhanh nên được thử nghiệm liệu pháp nội tiết. Nếu có đáp ứng hoặc thời gian bệnh ổn định kéo dài với điều trị nội tiết ban đầu, nên thử liên tiếp một số tác nhân nội tiết khác nhau để tối đa hóa chất lượng cuộc sống (QOL) trong thời gian dài nhất.
  • Hóa trị có thể được xem xét khi một khối u trở nên khó chữa trị với liệu pháp nội tiết hoặc là liệu pháp điều trị đầu tiên nếu bệnh đang tiến triển nhanh hoặc đe dọa đến tính mạng. Liệu pháp đơn hóa trị tuần tự thường được lựa chọn hơn là hóa trị kết hợp ở phụ nữ lớn tuổi bị ung thư vú di căn. Ức chế nguyên bào xương làm giảm đáng kể nguy cơ biến cố liên quan đến xương ở phụ nữ bị di căn xương; việc lựa chọn thuốc (bisphosphonate (acid zoledronic) hoặc denosumab) phụ thuộc vào nhiều yếu tố. 

hoatrik

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 11 Tháng 4 2021 10:45

Bệnh lý võng mạc đái tháo đường (P.2)

  • PDF.

BS. CKII Lê Tự Định - 

SÀNG LỌC BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Học viện Nhãn khoa Hoa Kỳ đã khuyến nghị tầm soát DR 5 năm sau khi chẩn đoán ở bệnh nhân ĐTĐ típ 1 và tại thời điểm chẩn đoán ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Những bệnh nhân không có bệnh lý võng mạc nên được kiểm tra đáy mắt mở rộng hàng năm. Nếu có bệnh võng mạc đái tháo đường không tăng sinh nhẹ (NPDR = mild non-proliferative diabetic retinopathy), nên kiểm tra lại sau mỗi 9 tháng. Bệnh nhân NPDR trung bình nên được khám 6 tháng một lần. Những bệnh nhân NPDR nghiêm trọng, nên tiến hành các kỳ kiểm tra 3 tháng một lần. Bệnh nhân mới được chẩn đoán mắc bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh nên được khám mỗi 2 đến 3 tháng, cho đến khi bệnh được coi là ổn định, lúc này việc khám bệnh có thể ít thường xuyên hơn. Trong thời kỳ mang thai, bệnh nhân nên được khám 3 tháng một lần, vì bệnh võng mạc có thể tiến triển nhanh chóng trong bối cảnh này.

1vongmac1

Hình 1. Vi phình mạch và xuất huyết võng mạc trong bệnh võng mạc không tăng sinh.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 10 Tháng 4 2021 15:27

Đọc thêm...

Hướng dẫn thực hành về dinh dưỡng ở bệnh nhân tại ICU

  • PDF.

Bs Đinh Hồng Thảo - 

Vấn đề suy dinh dưỡng - thiếu protein là một rối loạn liên tục và phổ biến ở bệnh nhân nằm viện tại khoa ICU nhưng tình trạng của nó thường khó ước lượng một cách chính xác cùng với sự gầy còm mãn tính. Ngoài ra chán ăn, trầm cảm, rối loạn tiêu hóa, hạn chế y tế và các vấn đề y tế khác cũng góp phần làm trầm trọng hơn tình trạng suy dinh dưỡng. Giảm tổng lượng calo và protein ăn vào làm phức tạp thêm tình trạng lâm sàng: lâu lành vết thương, tăng nhiễm trùng huyết, tăng các dấu ấn sinh học viêm và mất cân bằng chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa cơ quan, sốc và tử vong.

Can thiệp dinh dưỡng đầy đủ đã cho thấy làm giảm phản ứng trao đổi chất bất lợi và điều chỉnh các phản ứng miễn dịch một cách hiệu quả. Hỗ trợ dinh dưỡng ở những bệnh nhân bị bệnh nặng giúp ngăn ngừa sự suy giảm trao đổi chất và mất khối lượng cơ thể, giảm thời gian nằm viện, tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện kết quả của bệnh nhân.

dinhduongicu

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 10 Tháng 4 2021 15:25

Đọc thêm...

You are here Đào tạo