• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chào mừng 67 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/02 – Kỷ niệm 25 năm thành lập BVĐK tỉnh Quảng Nam 1997-2022 – Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam khánh thành KHU XẠ TRỊ GIA TỐC TUYẾN TÍNH

Đào tạo NCKH

Viêm mô tế bào

  • PDF.

Bs Phan Thị Giao Uyên - 

Viêm mô tế bào là gì?

Viêm mô tế bào là một bệnh nhiễm trùng da phổ biến do vi khuẩn gây ra. Nó ảnh hưởng đến lớp giữa của da (hạ bì) và các mô bên dưới. Đôi khi, cơ có thể bị ảnh hưởng. Tình trạng này có thể khởi phát đột ngột và đe dọa đến tính mạng nếu không được điều trị kịp thời.

Các trường hợp nhẹ liên quan đến nhiễm trùng cục bộ có kèm theo mẩn đỏ ở một vùng. Các trường hợp nghiêm trọng hơn liên quan đến nhiễm trùng lây lan nhanh chóng có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết. Ở một mức độ nào đó, sự lây lan sẽ phụ thuộc vào mức độ phản ứng của hệ thống miễn dịch của người đó.

viemotb

Viêm mô tế bào cẳng bàn chân trái

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 28 Tháng 4 2022 14:06

Đọc thêm...

Theo dõi chống đông tại đơn vị Chăm sóc đặc biệt

  • PDF.

Bs Nguyễn Hoàng Kim Ngân -

TỔNG QUAN

Những bệnh nhân mắc bệnh lý nguy kịch thường có biến chứng giảm đông và tăng đông thay đổi đòi hỏi phải theo dõi sát và điều trị bằng thuốc chống đông để ngăn ngừa hoặc điều trị sự hình thành cục máu đông không phù hợp. Bắt buộc phải hiểu các giai đoạn khác nhau của quá trình đông máu và nơi mỗi thuốc phát huy tác dụng điều trị của nó. Các xét nghiệm đông máu thông thường được sử dụng để theo dõi các khu vực của dòng thác đông máu và các hiệu quả mà thuốc chống đông máu thể hiện. Nhiều xét nghiệm đông máu mới cũng đang được phát triển. Mục đích của bài tổng quan mô tả này là để đánh giá các xét nghiệm đông máu thường được sử dụng để theo dõi chống đông máu trong khi điều trị tại đơn vị chăm sóc đặc biệt.

Bệnh nhân mắc bệnh nguy kịch thường có di chứng giảm đông và tăng đông thay đổi đòi hỏi phải theo dõi cường độ cao và điều trị bằng thuốc chống đông để ngăn ngừa hoặc điều trị sự hình thành cục máu đông không phù hợp. Các tác nhân như các dẫn xuất của heparin gồm heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) và heparin không phân đoạn (UFH), và warfarin thường được sử dụng trong đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) cho cả mục đích phòng ngừa và điều trị cục máu đông. Ngoài ra, bệnh nhân thường đến ICU với phác đồ chống đông máu tại nhà như thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp (DOACs) và xác định yêu cầu đảo ngược tác dụng của chúng được chỉ định. Dòng thác đông máu (Hình 1) là khía cạnh được quan tâm khi xác định các lý do có thể có đối với rối loạn đông máu của bệnh nhân cũng như phạm vi mà mỗi loại thuốc chống đông máu phát huy tác dụng điều trị của nó. Khi đánh giá thuốc chống đông máu, bác sĩ lâm sàng phải phân biệt và hiểu cả dữ liệu định lượng và chức năng để đánh giá tác dụng dược động học mà liệu pháp đang sử dụng. Mục đích của bài tổng quan mô tả này là để đánh giá các xét nghiệm đông máu được sử dụng phổ biến để theo dõi chống đông máu khi điều trị tại ICU.

chongdongicu

Hình 1. Dòng thác đông máu bao gồm các yếu tố hoạt hóa tiếp xúc, yếu tố mô, và con đường chung

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 28 Tháng 4 2022 12:07

Đọc thêm...

Quản lý toan chuyển hóa trong ICU: natri bicarbonate và liệu pháp thay thế thận

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Yến Linh - 

Giới thiệu

Nhiễm toan chuyển hóa là một quá trình gây ra bởi sự gia tăng các axit yếu hoặc giảm sự chênh lệch các ion mạnh (SID) [1]. Protein huyết thanh, albumin và photphat vô cơ được coi là axit yếu. Các ion mạnh, chẳng hạn như Na +, K +, Ca2 +, Mg2 + và Cl-, tồn tại ở trạng thái ion hóa hoàn toàn trong dịch cơ thể. SID là sự hiện diện của quá mức các cation hơn anion mạnh, và giá trị bình thường trong huyết tương là 42 mEq / l. Phương pháp để định lượng nhiễm toan chuyển hóa bằng cách sử dụng SID và các axit yếu đã được Stewart giới thiệu trong những năm 1980 và vẫn còn tạo ra tranh luận trong ứng dụng lâm sàng của nó [2]. Cơ sở kiềm dư trong huyết tương được sử dụng rộng rãi để xác định một thành phần chuyển hóa của nhiễm toan trong thực hành lâm sàng. Phương pháp tiếp cận kiềm dư được chứng minh là tương đương với phương pháp tiếp cận SID của Stewart trong việc định lượng tình trạng acid-base ở những bệnh nhân nặng [3].

bicacbonat

Nhiễm toan chuyển hóa được chia thành cấp tính và mãn tính. Mặc dù định nghĩa không rõ ràng, nhiễm toan chuyển hóa cấp tính xảy ra trong vòng vài ngày. Nhiễm toan mãn tính là một tình trạng kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng năm [4]. Trong chương này, chúng tôi tập trung vào nhiễm toan chuyển hóa ở bệnh nhân đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) và cung cấp thông tin cập nhật từ các nghiên cứu lâm sàng được công bố gần đây.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 27 Tháng 4 2022 21:39

Đọc thêm...

Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật

  • PDF.

(ERAS: Enhanced recovery after surgery)

Bs. Hồ Thiên Diễm - 

GIỚI THỆU

Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS: Enhanced recovery after surgery) là chiến lược chăm sóc toàn diện kết hợp đa phương thức để giảm các biến chứng sau phẫu thuật và đạt được sự phục hồi sớm cho bệnh nhân. Các chiến lược này bao gồm ba giai đoạn trước, trong, sau phẫu thuật với sự tham gia của các chuyên ngành nội khoa, ngoại khoa, gây mê, hồi sức, phục hồi chức năng,…nhằm tối ưu hóa quá trình điều trị giúp hồi phục tốt và nhanh chóng, giảm thiểu thời gian nằm viện.

hoiphucmo

Chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật

Bệnh nhân được khám và điều trị các bệnh lý nội khoa, nhiễm trùng,…được thông báo đầy đủ các thông tin về cuộc phẫu thuật và chuẩn bị trước phẫu thuật: nhịn ăn, vệ sinh, thụt tháo,…

Bác sĩ Gây mê khám tiền mê và đưa ra đánh giá trước phẫu thuật nhằm xác định các yếu tố nguy cơ và bệnh lý kèm theo. Điều này cho phép lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật, gây mê ,lựa chọn nơi điều dưỡng sau phẫu thuật. Các bệnh mãn tính như đái tháo đường, hen suyễn, tăng huyết áp, thiếu máu và bệnh tim thiếu máu cục bộ, cần được chẩn đoán và đưa ra một kế hoạch tối ưu hóa phù hợp.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 27 Tháng 4 2022 20:44

Đọc thêm...

Dự phòng nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện

  • PDF.

Bs Lê Thị Mỹ Thương- 

Đặt vấn đề

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu bệnh viện hay nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện là nhiễm khuẩn xảy ra trong bệnh viện liên quan đến chăm sóc y tế. Theo các nghiên cứu có tới 25%-40% người bệnh nhập viện phải đặt ống thông tiểu ít nhất một lần đến nhiều ngày. Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu khoảng 25% trong đó 80% các trường hợp NKTN bệnh viện do đặt ống thông tiểu dẫn lưu bàng quang. NKTN có tỷ lệ tử vong thấp hơn các nhiễm khuẩn khác nhưng là nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn huyết và tăng chi phí điều trị. Hầu hết các NKTN do đặt ống thông tiểu có triệu chứng và khó kiểm soát vì người bệnh không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và KSNK, nhất là đối với người bệnh phải phẫu thuật.

Một trong những khó khăn trong công tác dự phòng NKTN là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đòi hỏi nhiều trang thiết bị mà các bệnh viện chưa đáp ứng được, nhất là các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện. Chẩn đoán xác định NKTN chủ yếu dựa vào nuôi cấy vi sinh nước tiểu với số lượng vi khuẩn ≥ 10⁵ /ml và có tối đa 2 loại vi khuẩn. Các vi khuẩn phân lập chủ yếu từ những vi khuẩn cư trú ở cơ thể như Ecoli và có khi là các vi khuẩn đa kháng kháng sinh trong bệnh viện (Acinobacter, Klebsiella, Pseudomonas…)

NKTN làm tăng chi phí điều trị và nhiều trường hợp dẫn đến nhiễm khuẩn huyết và tử vong người bệnh, nên NKTN là gánh nặng cho người bệnh và bệnh viện. Việc dự phòng NKTN là hết sức cần thiết

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 21 Tháng 4 2022 18:04

You are here Đào tạo