• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chào mừng 67 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/02 – Kỷ niệm 25 năm thành lập BVĐK tỉnh Quảng Nam 1997-2022 – Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam khánh thành KHU XẠ TRỊ GIA TỐC TUYẾN TÍNH

Đào tạo NCKH

Chẩn đoán và xử trí hội chứng tim ngày nghỉ

  • PDF.

Bs Trần Lâm - 

(HOLIDAY HEART SYNDROME - HHS)

A. Giới thiệu chung về tác hại của rượu bia

Theo Liên đoàn tim mạch thế giới (WHF) [1], trong vài thập niên qua, tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch đã tăng gần gấp đôi, và rượu đóng một vai trò quan trọng. Rượu liên quan với ung thư khoang miệng và hầu, thanh quản, thực quản, gan, dạ dày, vú, đại - trực tràng. Nghiên cứu ở một số quốc gia cho thấy, nguy cơ bị đa bệnh tăng gấp 4 lần ở những người uống rượu. Trong năm 2019, thế giới có gần 2,4 triệu ca tử vong do rượu, chiếm 4,3% tổng số ca tử vong toàn cầu. Việc sử dụng rượu cũng có một tác động xã hội đáng kể, liên quan đến tai nạn giao thông, thương tích, mất hạnh phúc gia đình, và là gánh nặng của một quốc gia. Con cái có cha mẹ nghiện rượu cũng có tỷ lệ nghiện rượu cao hơn trong tương lai.

Dựa vào các bằng chứng gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho rằng: “Không có mức cồn nào là an toàn cho sức khỏe”. Uống rượu ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần và thể chất, liên quan đến chất lượng cuộc sống kém hơn và tình trạng nghèo đói. Ngay cả với một lượng nhỏ, rượu có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Rượu có thể gây nên các rối loạn chức năng nhận thức và vận động nặng hơn ở phụ nữ với mức uống thấp hơn nhiều so với nam giới. Rượu cũng tham gia vào các bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng khác. Do vậy, trong Chương trình hành động toàn cầu về dự phòng ngừa và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm, WHO đã kêu gọi giảm tương đối 10% lượng rượu bia bình quân đầu người từ năm 2013-2030 [1].

hctim6

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 19 Tháng 2 2022 16:46

Đọc thêm...

Tăng sản nội mạc tử cung

  • PDF.

BS Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

Tăng sản nội mạc tử cung (NMTC) là tình trạng tăng sinh rối loạn của các tuyến NMTC. Nó là kết quả của sự kích thích estrogen không được áp dụng của mô NMTC với sự thiếu hụt tương đối các tác động cân bằng của progesterone. Sự mất cân bằng nội tiết tố này có thể được nhìn thấy trong một số tình trạng mà nguyên nhân của sự dư thừa estrogen là nội sinh hoặc ngoại sinh.

Sự phát triển không đều của NMTC dẫn đến tỷ lệ tuyến / mô đệm bất thường và thể hiện trong một chuỗi các thay đổi liên tục trong NMTC. Nó liên quan đến các mức độ phức tạp mô bệnh học khác nhau và các đặc điểm không điển hình trong tế bào và nhân. Tăng sản NMTC, nếu không được điều trị, có xu hướng phát triển thành ung thư NMTC (K NMTC). 

tangsan

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 16 Tháng 2 2022 20:43

Đọc thêm...

Quản lý đau sau phẫu thuật (p.2)

  • PDF.

(Phần 2)

Bs Hồ Kiến Phát - 

I/Cơ chế tác dụng của các thuốc giảm đau chính

Các phương pháp tiếp cận mới trong điều trị giảm đau sau mổ đã tìm cách tối ưu hoá tỷ lệ lợi ích/ nguy cơ của nhiều thuốc giảm đau và cải thiện kiểm soát đau. Trong khi trước đây giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát là tiêu chuẩn, thì ngày nay nhiều lựa chọn điều trị phối hợp trong chiến lược giảm đau đa mô thức. Vì vậy điều quan trọng là phải hiểu cơ chế tác dụng và dược lý học của các loại thuốc giảm đau chính thường dùng,

dausaupt

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 13 Tháng 2 2022 21:11

Sử dụng oxy lưu lượng cao qua canuyn mũi (HFNC) trong điều trị bệnh nhân Covid-19

  • PDF.

Bs Lê Bảo Ngọc - 

Đại dịch Covid 19 với làn sóng bùng phát thứ tư vẫn đang diễn biến phức tạp. Tuy chiến lược bao phủ vaccine đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm tỉ lệ người nhập viện, tỉ lệ bệnh nặng nguy kịch và tỉ lệ tử vong, tuy nhiên vẫn đang là gánh nặng y tế lớn, đặc biệt ở những cơ sở thiếu máy thở.

Thông khí xâm nhập, ngoài việc trang thiết bị đắt tiền phức tạp, còn đòi hỏi người bác sĩ có trình độ chuyên môn cao về hồi sức và thở máy. Thêm vào đó, tỉ lệ tử vong trên bệnh nhân thở máy vẫn còn cao, kể cả ở trung tâm hồi sức có điều kiện chuyên môn cao.

Trong bối cảnh đó, các biện pháp hỗ trợ oxy không xâm nhập trong điều trị bệnh nhân nặng như HFNC vẫn chứng tỏ hiệu quả trong việc cung cấp oxy, hỗ trợ hô hấp, giảm thương tổn phổi tiến triển, giảm tỉ lệ chuyển thở máy trên bệnh nhân Covid.

I. GIỚI THIỆU

HFNC là kĩ thuật đưa dòng oxy lưu lượng cao đã được làm ấm và làm ẩm đến cannula mũi. Nếu các biện pháp cung cấp oxy thông thường như thở oxy qua cannula, qua mask chỉ đạt lưu lượng 10-15l õy/phút thì với thở HFNC, lưu lượng oxy cung cấp có thể đạt tối đa 60l/phút. HFNC tạo nên áp lực dương thấp ở đường thở trên và FiO2 có thể thay đổi.

hfnc

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 06 Tháng 2 2022 08:02

Quản lý đau sau phẫu thuật

  • PDF.

(Phần I)

Bs Hồ Kiến Phát - 

I/Tổng quan

Đau là một trải nghiệm phức tạp, và sinh lý bệnh đau mỗi ngày càng được hiểu chính xác hơn. Đau phụ thuộc rõ vào các đặc điểm của bệnh nhân: tuổi tác, bệnh lý đi kèm, phương pháp điều trị kèm cũng như tính cách, niềm tin và trải nghiệm đau trước đó. Vì vậy, bệnh nhân được quyền tự đánh giá tình trạng đau của chính mình. Sau đó mới đến vai trò của người chăm sóc, bác sĩ hoặc điều dưỡng, để biết cách dùng thuốc nào giúp giảm đau tốt nhất cho bệnh nhân. Trong đó, giảm đau đa phương thức hiện nay đang được coi là một trong những điều trị đau tiêu chuẩn.

Đau sau phẫu thuật là một trạng thái khó chịu về cảm giác và cảm xúc, có liên quan đến những tổn thương thực sự hay tiềm tàng của cơ thể. Đau sau mổ là một phản ứng sinh bệnh lý phức tạp và do nhiều nguyên nhân khác nhau, thường biểu hiện trên lâm sàng bằng các dấu hiệu bất thường của hệ thần kinh tự động, tình trạng rối loạn tâm thần, hoặc thay đổi tính nết của bệnh nhân.

quanlydau

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 20 Tháng 1 2022 08:59

You are here Đào tạo