• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chào mừng 67 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/02 – Kỷ niệm 25 năm thành lập BVĐK tỉnh Quảng Nam 1997-2022 – Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam khánh thành KHU XẠ TRỊ GIA TỐC TUYẾN TÍNH

Đào tạo NCKH

Nguyên nhân thiếu máu ở bệnh nhân ung thư

  • PDF.

Bs Bùi Thị Thuỷ Tiên - 

I.GIỚI THIỆU

Thiếu máu thường phổ biến ở những bệnh nhân ung thư. Thiếu máu có thể là một dấu hiệu của bệnh ác tính, nhưng nó cũng có thể là hậu quả của liệu pháp điều trị ung thư hoặc bệnh đang tiến triển của bệnh nhân. Vì thiếu máu là nguyên nhân thường xuyên gây ra sự mệt mỏi và mệt mỏi được xếp là triệu chứng phổ biến nhất ảnh hưởng đến bệnh nhân ung thư và hạn chế hoạt động hàng ngày của họ, nhận biết thiếu máu và nguyên nhân của nó thì rất quan trọng để xác định các biện pháp can thiệp thích hợp có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. Bài tổng quan này sẽ thảo luận về những nguyên nhân gây thiếu máu liên quan đến những bệnh nhân mắc bệnh ung thư.

II. TỔNG QUÁT:

1. Cơ chế:

Cũng như bệnh thiếu máu nói chung, ba phạm trù cần được xem xét khi đánh giá nguyên nhân thiếu máu ở những bệnh nhân có khối u ác tính. 

  • Mất hồng cầu (RBC) khỏi cơ thể (thiếu máu do mất máu)
  • Tăng phá hủy hồng cầu (thiếu máu tan máu)
  • Giảm sản xuất hồng cầu

Thiếu máu có thể "rõ ràng" hơn ở những bệnh nhân có khối lượng hồng cầu bình thường nhưng thể tích huyết tương tăng. Điều này có thể là kết quả của việc giữ nước hoặc tăng thể tích huyết tương được thấy ở bệnh nhân lách to do một trong các loại ung thư tăng sinh tủy.

anemia-and-cancer

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 06 Tháng 9 2021 16:50

Đánh giá và quản lý chứng chán ăn và suy mòn trong chăm sóc giảm nhẹ

  • PDF.

Bs. Trịnh Thị Lý - 

GIỚI THIỆU

Hyppocrates đã mô tả một hội chứng suy kiệt và mất nhận thức tiến triển ở những bệnh nhân ốm và sắp chết. Bắt nguồn từ từ “kakos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “những điều tồi tệ” và hexus có nghĩa là “trạng thái hiện hữu” thuật ngữ “suy mòn” đã được sử dụng để mô tả việc sụt cân. Từ “an” có nghĩa là “không có” và “orexis” có nghĩa là “thèm ăn, ham muốn”, từ “anoxeria” được sử dụng để mô tả sự chán ăn. Suy mòn là một trạng thái tăng trao đổi chất được xác định là sự mất nhanh cơ xương trong bối cảnh phản ứng viêm mãn tính, được mô tả tốt nhất trong bối cảnh ung thư nhưng cũng được thấy trong các bệnh mãn tính tiến triển khác bao gồm AIDS, suy tim, và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD). Mặc dù những thay đổi về thành phần cơ thể không giống nhau trong tất cả các trạng thái bệnh này, nhưng thuật ngữ suy mòn được sử dụng trong tất cả các trường hợp này.

Chán ăn và sụt cân thường gặp ở những bệnh nhân mắc một căn bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng như ung thư. Tuy nhiên sự sụt cân nghiêm trọng ở bệnh nhân suy mòn do ung thư không phải hoàn toàn là do lượng calo dung nạp kém. Trái ngược với tình trạng đói đơn thuần, được đặc trưng bởi sự thiếu hụt calo mà có thể được đảo ngược bằng cách cho ăn thích hợp, tình trạng suy mòn không thể đảo ngược bằng cách bổ sung calo.

Đánh giá chủ đề này sẽ bao gồm chẩn đoán, đánh giá và quản lý chứng chán ăn và suy mòn ở bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ. Đánh giá chi tiết hơn về các đặc điểm lâm sàng, cơ chế bệnh sinh và cách quản lý chứng chán ăn và suy mòn liên quan đến ung thư.

understanding-cachexia

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 06 Tháng 9 2021 16:44

Những thay đổi về thực hành lâm sàng trong can thiệp tim mạch dựa trên bằng chứng

  • PDF.

Bs Nguyễn Tấn Hạnh - 

Các thủ thuật can thiệp tim mạch đã phát triển và mở rộng nhanh chóng về phạm vi cũng như kĩ thuật trong vài thập kỷ qua. Bên cạnh những khía cạnh trong thực hành lâm sàng đã được kiểm chứng qua những nghiên cứu có giá trị, một số phương pháp từ lâu đến nay vẫn tiếp tục được áp dụng dựa trên giả thuyết của các bác sỹ lâm sàng. Bài viết này sẽ tóm tắt và nhấn mạnh những phương pháp điều trị, sự chuẩn bị trước, trong và sau thủ thuật dựa trên những bằng chứng mới nhất nhằm ủng hộ hay sửa đổi những giả thuyết ảnh hưởng đến việc thực hành lâm sàng trước đây.

I. ĐIỀU TRỊ TRƯỚC CAN THIỆP

1. Nhịn ăn trước thủ thuật

Những bệnh nhân chuẩn bị can thiệp thường được cho nhịn ăn qua đêm hoặc trong nhiều giờ. Có 2 lý do chính cho việc nhịn ăn bao gồm: (1) Nôn thường xảy ra khi sử dụng các loại thuốc cản quang ion hóa, áp lực thẩm thấu cao, do vậy có thể dẫn tới nguy cơ viêm phổi hít, đặc biệt ở những bệnh nhân được an thần do phản xạ bảo vệ đường thở giảm đi. (2) Dự phòng hiện tượng nôn gây viêm phổi hít khi đặt nội khí quản do các biến chứng khi can thiệp.

Tuy nhiên, cho đến hiện tại không có bằng chứng nào đủ mạnh để ủng hộ việc nhịn ăn kéo dài ở những bệnh nhân can thiệp được an thần. Bằng chứng của nôn hay nguy cơ phẫu thuật cấp cứu ở những bệnh nhân được can thiệp hiện tại rất thấp. Ngoài ra, nhịn ăn kéo dài có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn ở một số bệnh nhân nhạy cảm. Hội Gây Mê Hoa Kỳ (2017) khuyến cáo rút ngắn thời gian nhịn ăn hơn là nhịn ăn qua đêm, những thức uống lỏng và bữa ăn nhẹ được khuyến cáo trước thủ thuật lần lượt 2 giờ và 6 giờ. Việc nhịn ăn trước thủ thuật nên được cân nhắc và có thể không cần thiết ở những bệnh nhân chỉ gây tê tại chỗ, không an thần, ở những bệnh nhân đó phản xạ bảo vệ đường thở bình thường và không có yếu tố nguy cơ viêm phổi hít.

THLS

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 9 2021 19:20

Cập nhật giang mai và thai kỳ (CDC Hoa Kỳ 2021)

  • PDF.

Bs Đinh Thị Thu Trang - 

1. Tổng quan

1.1. Định nghĩa

Giang mai (Syphillis) là một bệnh lây truyền qua đường tình dục, gây ra do xoắn khuẩn giang mai (Treponema pallidum).

Bệnh chủ yếu lây qua đường tình dục, ngoài ra còn có thể lây qua đường máu, lây từ mẹ bị giang mai sang cho con.

1.2. Phân loại

Giang mai có 2 loại: Giang mai mắc phải và giang mai bẩm sinh

Giang mai mắc phải bao gồm:

  • Giang mai thời kỳ 1: loét hoặc săng ở vùng bị lây nhiễm
  • Giang mai thời kỳ 2: phát ban da, tổn thương da và niêm mạc và hạch
  • Giang mai thời kỳ 3: ảnh hưởng trên thần kinh, tim mạch, tổn thương gummata
  • Nhiễm trùng tiềm ẩn (không có biểu hiện lâm sàng) được phát hiện bằng xét nghiệm huyết thanh học.

Giang mai bẩm sinh bao gồm:

  • GMBS sớm: thường xuất hiện trong 2 năm đầu, nhưng thường gặp 3 tháng đầu và mang tính chất của giang mai thời kỳ 3 với các triệu chứng như phỏng nước, bong vảy ở lòng bàn tay, bàn chân, sổ mũi, khụt khịt mũi, viêm xương sụn, giả liệt Parrot, nhẹ cân, tuần hoàn bàng hệ, gan to, lách to,… 
  • Giang mai bẩm sinh muộn: Xuất hiện muộn khi trẻ lớn hơn 2 tuổi. Biểu hiện lâm sàng thường do sẹo và những thay đổi viêm mạn tính, trẻ bị thủng vòm miệng khẩu cái, thủng khoang mũi. Tam chứng Hutchinson (răng Hutchinson, điếc nhất thời, lác quy tụ).

gmaitk

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 9 2021 19:20

Chăm sóc bệnh nhân bị “Hội chứng hậu COVID-19”

  • PDF.

BsCKII Trần Lâm - 

Mở đầu:

Hầu hết bệnh nhân mắc COVID-19 đều hồi phục trong vòng vài tuần sau khi bị bệnh, tuy nhiên, một số người lại gặp phải “Hội chứng hậu COVID-19” (post-COVID-19 syndrome). Hội chứng hậu COVID-19 được định nghĩa là một loạt các vấn đề sức khỏe mới, đang trở lại hoặc đang diễn ra mà bệnh nhân có thể mắc phải sau ≥ 4 tuần kể từ lần đầu tiên bị nhiễm COVID-19. Khung thời gian từ 4 tuần trở lên là ước tính gần đúng về các tác động xảy ra ngoài giai đoạn cấp, nhưng khoảng thời gian này có thể thay đổi khi chúng ta biết nhiều hơn về COVID-19.

Về mặt thuật ngữ, “Hội chứng hậu COVID-19” còn có thể được gọi là “Các tình trạng hậu COVID”, “COVID kéo dài”, “COVID-19 sau giai đoạn cấp”, “Ảnh hưởng lâu dài của COVID” hoặc “COVID mạn”,...

Ngay cả những người không có các triệu chứng COVID-19 trong những ngày hoặc vài tuần sau khi họ bị nhiễm virus SARS-CoV-2 cũng có thể mắc Hội chứng hậu COVID-19. Hội chứng này có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau với sự kết hợp của các vấn đề sức khỏe trong các khoảng thời gian khác nhau.

Riêng ở trẻ em và thanh thiếu niên, mặc dù COVID cấp có thể ít nghiêm trọng hơn so với người trưởng thành, nhưng bệnh có thể dẫn đến nhiều kết cục có thể từ bán cấp đến nặng. Ảnh hưởng lâu dài do nhiễm SARS-CoV-2 có thể là đáng kể, bất kể mức độ nghiêm trọng của bệnh ban đầu.

haucovid

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 9 2021 18:45

You are here Đào tạo