• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chào mừng 67 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/02 – Kỷ niệm 25 năm thành lập BVĐK tỉnh Quảng Nam 1997-2022 – Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam khánh thành KHU XẠ TRỊ GIA TỐC TUYẾN TÍNH

Đào tạo NCKH

Thay lại dây chằng chéo trước

  • PDF.

Bs Phạm Ngọc Ẩn - 

Ở Mỹ, thay lại dây chằng chéo trước (DCCT) khớp gối chiếm tỷ lệ 74,6/100.000 với tỷ lệ thành công lên đến 75 – 99% bệnh nhân. Tuy nhiên, tỷ lệ đứt mảnh ghép cao hơn ở bệnh nhân dưới 20 tuổi.

1. Nguyên nhân thất bại:

Xác định được nguyên nhân thất bại là chìa khóa để đạt được thành công khi tái tạo lại DCCT. Nghiên cứu cho thấy nguyên nhân thất bại gồm: Đứt lại DCCT (37%), chấn thương (32%), sai sót kỹ thuật (24%), các yếu tố sinh học gây đứt mảnh ghép ở 7% bệnh nhân.

Thay lại DCCT nhằm làm vững khớp, đạt tầm vận động khớp gối và chịu được tải trọng. Mảnh ghép tự thân có kết quả tốt với ít biến chứng tại nơi lấy mảnh ghép. Tuy nhiên, vị trí lấy mảnh ghép cho phẫu thuật thay lại phụ thuộc nhiều vào việc mảnh ghép đã được sử dụng trong phẫu thuật trước. Ghép cùng loài có tỷ lệ nguy cơ phẫu thuật tái tạo lại cao hơn ở bệnh nhân trẻ và vận động nhiều.

Sai sót kỹ thuật là nguyên nhân dẫn đến đứt mảnh ghép DCCT. Nguyên nhân thường gặp nhất là làm đường hầm không đúng vị trí, đặt vật liệu cố định không đúng hoặc lỏng vật liệu và chi bị lệch trục nhưng không được nhận biết. Mảnh ghép không đúng vị trí, không sinh lý. Nguyên nhân thường gặp nhất của sai vị trí đường hầm là đặt đường hầm đùi ra trước quá. Vị trí này dẫn đến giảm gấp khớp do căng mảnh ghép, khi gối gấp đạt tầm sinh lý bình thường có thể làm đứt dây chằng, làm đường hầm đùi quá đứng dẫn đến sự dịch chuyển trước - sau bị hạn chế. Vì vậy, độ vững của khớp gối khi xoay bị ảnh hưởng. Đặt đường hầm chày sai vị trí cũng ảnh hưởng đến mảnh ghép. Đặt đường hầm quá ra trước làm mảnh ghép bị chặn vào hố gian lồi cầu khi duỗi gối. Đặt ra sau làm lỏng mảnh ghép khi gấp gối và chặn dây chằng chéo sau.

Cố định mảnh ghép cũng rất quan trọng để duy trì vị trí và độ căng mảnh ghép, đặc biệt là trong hai tuần đầu sau mổ, khi mảnh ghép ở vào thời điểm yếu nhất. Mảnh ghép xương – gân – xương có thể thất bại khi bề mặt tiếp xúc xương – xương không đủ hoặc bị tụt do vít chặn không đủ tác dụng. Thất bại cố định mảnh ghép mô mềm xảy ra vì không đặt chính xác nút buộc nội soi hoặc lực căng không đủ khi cố định bằng dây treo.

Chi bị lệch trục không được nhận biết trước và bỏ sót các thương tổn kèm theo có ảnh hưởng đến nguy cơ đứt mảnh ghép. Góc nghiêng sau của mâm chày > 120 được xem là yếu tố dự đoán mạnh nhất cho tổn thương DCCT lặp lại theo Salmon và cộng sự. Những tổn thương cấu trúc sau trong, sau ngoài và sụn chêm khớp gối khi mổ tái tạo DCCT lần đầu nhưng không được điều trị cũng có thể dẫn đến hỏng mảnh ghép.

Đứt, thất bại mảnh ghép do chấn thương được chia thành 02 loại: trước khi mảnh ghép liền và sau khi bệnh nhân trở lại các hoạt động bình thường hoặc hoạt động thể dục thể thao.

Tập phục hồi chức năng sớm được ủng hộ, khởi đầu bằng tập ROM và tập sức căng nhẹ nhàng. Tuy nhiên, việc tập sức mạnh của cơ quá sớm (trước 02 tuần sau mổ) hoặc quá mức có thể gây nguy cơ cho mảnh ghép. Nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng mảnh ghép DCCT chỉ bằng 30% sức mạnh của DCCT tự nhiên trong năm đầu sau mổ. Một chấn thương cấp của khớp gối có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong suốt giai đoạn phục hồi và có thể làm tổn thương mảnh ghép.

Các hoạt động thể thao với cường độ nặng có thể gây ra các vi chấn thương cho mảnh ghép. Các yếu tố nguy cơ gây đứt mảnh ghép sau khi trở lại hoạt động thông thường gồm: Tuổi < 25, các hoạt động xoay, nhảy hoặc các hoạt động thể dục thể thao có tính đối kháng, giảm sức mạnh của cơ tứ đầu đùi, cơ hamstring, test nhảy lò cò 1 chân sau mổ kém cho thấy có liên quan đến nguy cơ cao bị tái tổn thương dây chằng.

2. Đánh giá lâm sàng:

Phẫu thuật viên cần khai thác lại tiền sử, triệu chứng, các giới hạn chức năng khớp gối, tường trình phẫu thuật của lần mổ trước để đánh giá lại cơ chế tổn thương trước đó, các tổn thương kèm theo, loại ghép, phương pháp cố định mảnh ghép, protocol phục hồi chức năng sau mổ. Các hình ảnh nội soi trước đó, Xquang, MRI cũng nên được xem lại.

Các hoạt động thể thao, các giới hạn chức năng sau phẫu thuật lần đầu cũng cần được lưu ý. Bệnh nhân nên được tư vấn về các hoạt động thể lực có thể hoặc những mong đợi về chức năng để chắc rằng mong đợi của bệnh nhân là phù hợp với tiên lượng của cuộc mổ lại. Cuối cùng, bác sĩ phải xác định nguyên nhân thất bại của lần mổ trước để đảm bảo cho cuộc mổ lại thành công.

Khám lâm sàng khớp gối gồm đánh giá: tràn dịch khớp? nhiễm trùng? các đường mổ trước đó. Đánh giá sự thẳng trục chi, các biến dạng Varus, Valgus, các thương tổn khoang sau ngoài và sau trong nên được kiểm tra chuyên sâu bằng các thủ thuật đặc hiệu. Tầm vận động khớp cần được đánh giá và so sánh với bên lành và nên được đánh giá ở tư thế đứng và nằm để xác định các giới hạn cần phải tăng cường phục hồi chức năng trước mổ. Khám dây chằng bắt đầu bằng việc đánh giá ACL bằng test Lachman để đánh giá độ vững trước – sau và test Pivot shift để đánh giá mất vững xoay. Đánh giá dây chằng bên trong và dây chằng bên ngoài ở vị trí 00 và gấp 300. Đánh giá PCL bằng test ngăn kéo sau, test Dial cũng có thể được sử dụng để đánh giá các tổn thương sau-ngoài. KT-1000 cũng có thể được sử dụng để đánh giá chính xác hơn sự dịch chuyển mâm chày ra trước, sự khác biệt trên 3mm so với bên lành là có ý nghĩa chẩn đoán.

3. Hình ảnh học:

Tất cả các bệnh nhân có biểu hiện mất vững khớp gối tái phát cần phải khảo sát hình ảnh học bẳng Xquang khớp gối thẳng - nghiêng để đánh giá đường hầm chày, đùi. Harner và cộng sự cho rằng đường hầm chày nên bắt chéo qua mặt khớp ở điểm giữa của mâm chày trên phim thẳng và ở vị trí 1/3 trước trên phim nghiêng. Đường hầm đùi nên ở vị trí 1/4 sau của đường Blumensaat. Đường hầm ở vị trí chính xác sẽ không cần thiết phải làm lại, đường hầm ở vị trí không chính xác cần phải làm lại đường hầm mới qua xương tự nhiên hoặc cần phải sửa lại qua đường hầm cũ và đòi hỏi phải ghép xương trước khi làm đường hầm mới.

thay dc

Đường Blumensaat

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 21 Tháng 9 2021 11:34

Đọc thêm...

Hướng dẫn của Hội Tim mạch ChâuCÂu, Hội Phẫu thuật tim và lồng ngực Châu Âu 2020 về chẩn đoán và quản lý rung nhĩ

  • PDF.

Bs Bùi Văn Bình - 

rungnhi2020

Xem tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 21 Tháng 9 2021 18:47

Đồng thuận 2021 của Hội Tim mạch Châu Âu (ESC) về sử dụng liệu pháp chống huyết khối ở bệnh động mạch chủ và động mạch ngoại biên

  • PDF.

Bs Trương Duy Nghĩa - 

I. ĐỘNG MẠCH CẢNH, ĐỘNG MẠCH ĐỐT SỐNG VÀ ĐỘNG MẠCH DƯỚI ĐÒN

1. Động mạch cảnh:

Các mảng xơ vữa động mạch cảnh là nguy cơ tiềm ẩn của đột quỵ do tắc mạch, và có liên quan đến tăng nguy cơ các biến cố tim mạch ngoài đột quỵ. Vì chưa có thử nghiệm nào nghiên cứu liệu pháp kháng tiểu cầu đơn (Single Aantiplatelet Therapy- SAPT, ví dụ như aspirin) để giảm các biến cố tim mạch ở bệnh nhân có mảng xơ vữa động mạch cảnh không hẹp (tài liệu này chỉ đề cập đến các bệnh nhân hẹp động mạch cảnh (khi hẹp > 50%).

Điều trị chống huyết khối ở bệnh nhân hẹp động mạch cảnh không triệu chứng vẫn còn nhiều tranh cãi. Hướng dẫn của ESC đề xuất SAPT lâu dài ở bệnh nhân không có triệu chứng hẹp động mạch cảnh ≥ 50%  nếu nguy cơ chảy máu thấp.

Hẹp động mạch cảnh có triệu chứng có liên quan đến nguy cơ cao tái phát sớm các biến cố thiếu máu cục bộ mạch máu não. Ở những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não liên quan đến bệnh động mạch lớn, SAPT (aspirin hoặc clopidogrel) có hiệu quả hơn trong việc giảm các biến cố tái phát so thuốc kháng vitamin K (VKA). Về liệu pháp kháng tiểu cầu kép (Dual antiplatelet therapy- DAPT), trong giai đoạn đầu hẹp động mạch cảnh có triệu chứng, sự kết hợp của aspirin và clopidogrel làm giảm nguy cơ tắc mạch não không triệu chứng và đột quỵ, thuốc cũng làm giảm nguy cơ tái phát đột quỵ sau cơn thiếu máu cục bộ đột quỵ nhỏ và TIA. Gần đây hơn, thử nghiệm cho thấy nguy cơ tử vong hoặc đột quỵ giảm đáng kể (17%)  khi sử dụng ticagrelor + aspirin so với aspirin đơn thuần ở bệnh nhân đột quỵ nhẹ hoặc TIA nguy cơ cao khi có kèm hẹp động mạch cảnh.

Sau khi đặt stent động mạch cảnh, DAPT (aspirin + clopidogrel) được xem là tiêu chuẩn điều trị, trong khi thời gian tối ưu còn đang được tranh luận. Với kinh nghiệm đặt stent mạch vành, hầu hết các chuyên gia ủng hộ DAPT sau đặt stent động mạch cảnh ít nhất 1 tháng. 

Ở những bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh (CEA), việc giảm các biến cố thiếu máu cục bộ khi dùng aspirin đã được chứng minh trong thử nghiệm và thực tế. Không có sự khác biệt về đột quỵ tử vong sau CEA giữa DAPT và SAPT, nhưng nguy cơ chảy máu lớn và tụ máu vùng cổ cao hơn đáng kể khi dùng DAPT.

chonghk

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 20 Tháng 9 2021 14:23

Ung thư tế bào hắc tố

  • PDF.

Bs Phạm Tấn Trà - 

TỔNG QUAN:

U hắc tố ác tính là một bệnh phổ biến, với tỷ lệ mắc ngày càng tăng ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Tác động của tia cực tím (UVR) là yếu tố nguy cơ chính gây ung thư hắc tố. Tại Hoa Kỳ, Ung thư tế bào hắc tố xếp thứ 5 ở nam giới và thứ 6 ở ​​nữ giới. Phần lớn melanoma được phát hiện ở giai đoạn đầu, khi tỷ lệ sống sót cao và phẫu thuật thường là phương pháp điều trị cần thiết duy nhất. Chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời các tổn thương ở giai đoạn đầu là cơ hội lớn nhất để giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. Những khám phá mới về đột biến tế bào sinh dưỡng trong u hắc tố ác tính đã nâng cao hiểu biết sinh học và tạo điều kiện việc phát triển các nhóm thuốc nhắm trúng đích mới. Các cơ chế điều hòa miễn dịch cũng dần khám phá dẫn đến những tiến bộ quan trọng trong liệu pháp miễn dịch. Việc chăm sóc bệnh nhân melanoma đòi hỏi một team liên chuyên khoa (multidisciplinary team) bao gồm bác sĩ da liễu, giải phẫu bệnh, bác sĩ phẫu thuật, và bác sĩ ung bướu.

DỊCH TỄ HỌC:

Ước đoán hiện tại là 1/28 nam giới và 1 /44 phụ nữ sẽ phát triển melanoma xâm lấn trong cuộc đời của họ (tại Hoa Kỳ). Tỷ lệ mắc ung thư hắc tố tiếp tục tăng, và nó là nguyên nhân hàng đầu tử vong do bệnh lí u ác tính ở da, chiếm 1% - 2% tất cả các ca tử vong do ung thư ở Hoa Kỳ. Melanoma ảnh hưởng đến tất cả các nhóm tuổi, với độ tuổi trung bình khi chẩn đoán là 63; tuy nhiên, gặp nhiều nhất ở thanh niên từ 25 đến 29 tuổi.

k tb hto

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 19 Tháng 9 2021 10:22

Ung thư tuyến giáp (p.4)

  • PDF.

Bs Lê Trung Nghĩa - 

Nguyên tắc điều trị

Ở những bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể tủy khu trú, phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp có thể được chữa khỏi. Mức độ phẫu thuật nên tùy thuộc vào mức độ bệnh, ít nhất phải phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch cổ khoang trung tâm. Bóc tách hạch cổ bên được chỉ định tùy thuộc vào kích thước của hạch nguyên phát và nếu có các hạch bên. Bệnh nhân di căn xa có thể có thời gian sống thêm ngắn; do đó, cắt toàn bộ tuyến giáp với bóc tách hạch cổ trung tâm ± bóc tách hạch cổ bên nên được xem xét ở một số bệnh nhân được chọn để đạt được sự kiểm soát theo vùng. Vai trò của xạ trị và hóa trị liệu bị hạn chế. Phẩu thuật trước đây có thể được coi là nơi thực hiện loại bỏ bệnh hoàn toàn, nhưng có nguy cơ gây bệnh sót lại vi thể do bảo tồn các cấu trúc như khí quản, dây thần kinh thanh quản quặt ngược hoặc thực quản. Trong bối cảnh bệnh di căn, bệnh tật do phẫu thuật phải được xem xét khi đưa ra quyết định điều trị. Ở những người mang gen ung thư RET, phẫu thuật cắt tuyến giáp dự phòng ngăn ngừa sự phát triển của ung thư tuyến giáp thể tủy, nhưng cần tiếp tục sàng lọc đối với các biểu hiện của MEN 2 tùy thuộc vào đột biến cụ thể.

k giáp4

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 19 Tháng 9 2021 10:35

You are here Đào tạo