• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

THỰC HIỆN 5 K (KHẨU TRANG- KHỬ KHUẨN-KHOẢNG CÁCH-KHÔNG TỤ TẬP-KHAI BÁO Y TẾ) PHÒNG CHỐNG COVID --- HÃY GIỮ AN TOÀN CHO BẠN VÀ CHÚNG TA TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID-19 --- BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NAM ĐÃ TRIỂN KHAI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH QUA SỐ ĐIỆN THOẠI 1900.969646 VÀ QUA TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA BV TẠI MỤC ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH ONLINE

Bệnh viêm gan siêu vi C

  • PDF.

Khoa Vi Sinh

Viêm gan siêu vi C là bệnh gan do virus viêm gan C gây ra: virus này có thể gây ra cả bệnh viêm gan cấp tính và mãn tính, với mức độ nghiêm trọng từ bệnh nhẹ kéo dài vài tuần đến bệnh nghiêm trọng, suốt đời.

Virus viêm gan C là một loại virus trong máu và các phương thức lây nhiễm thông thường nhất là do tiếp xúc với máu. Điều này có thể xảy ra thông qua việc sử dụng thuốc tiêm, thực hành tiêm không an toàn, chăm sóc sức khỏe không an toàn và truyền máu và các sản phẩm máu không được kiểm soát.

Trên toàn cầu, ước tính có 71 triệu người bị nhiễm viêm gan C mãn tính.Một số lượng đáng kể những người bị nhiễm mạn tính sẽ phát triển bệnh xơ gan hoặc ung thư gan. Khoảng 399 000 người chết mỗi năm do viêm gan C, phần lớn là do xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan.

vgc1

Thuốc kháng vi-rút có thể chữa trị hơn 95% người nhiễm viêm gan C, do đó làm giảm nguy cơ tử vong do ung thư gan và xơ gan, nhưng việc tiếp cận với chẩn đoán và điều trị thấp.

Hiện tại không có thuốc chủng ngừa viêm gan C; tuy nhiên nghiên cứu trong lĩnh vực này đang được tiến hành.

Virus viêm gan C (HCV) gây ra cả nhiễm trùng cấp tính và mãn tính. Nhiễm HCV cấp tính thường không có triệu chứng và chỉ hiếm khi (nếu có) liên quan đến bệnh đe dọa tính mạng. Khoảng 15-45% số người bị nhiễm bệnh tự phát loại bỏ virus trong vòng 6 tháng sau khi bị nhiễm mà không cần điều trị.

60-80% số người còn lại sẽ bị nhiễm HCV mạn tính. Trong số những người bị nhiễm HCV mạn tính, nguy cơ xơ gan là từ 15-30% trong vòng 20 năm.

Phân bố địa lý

Viêm gan C được tìm thấy trên toàn thế giới. Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là khu vực Đông Địa Trung Hải và Châu Âu của WHO, với tỷ lệ lần lượt là 2,3% và 1,5%. Tỷ lệ nhiễm HCV ở các khu vực khác của WHO thay đổi từ 0,5% đến 1,0%. Tùy thuộc vào quốc gia, nhiễm vi-rút viêm gan C có thể tập trung ở một số quần thể nhất định (ví dụ, trong số những người tiêm chích ma túy) và / hoặc trong quần thể chung. Có nhiều chủng (hoặc kiểu gen) của virus HCV và sự phân bố của chúng thay đổi theo vùng.

Lây truyền

HCV là một loại virus trong máu. Nó thường được truyền qua:

- Tiêm chích ma túy thông qua việc chia sẻ thiết bị tiêm;

- Việc sử dụng lại hoặc khử trùng không đầy đủ thiết bị y tế, đặc biệt là ống tiêm và kim tiêm trong các cơ sở y tế; và

- Truyền máu không được kiểm soát và các sản phẩm máu.

HCV cũng có thể lây truyền qua đường tình dục và có thể truyền từ người mẹ bị nhiễm sang con; tuy nhiên các phương thức lây truyền này ít phổ biến hơn nhiều.

Viêm gan siêu vi C không lây lan qua sữa mẹ, thức ăn, nước hoặc bằng cách tiếp xúc bình thường như ôm, hôn và chia sẻ thức ăn hoặc đồ uống với người bị nhiễm bệnh.

Ước tính thu được từ mô hình cho thấy rằng trên toàn thế giới, trong năm 2015, đã có 1,75 triệu ca nhiễm HCV mới (trên toàn cầu, 23,7 ca nhiễm HCV mới trên 100.000 dân).

Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh viêm gan C là 2 tuần đến 6 tháng. Sau nhiễm trùng ban đầu, khoảng 80% người không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. Những người có triệu chứng sâu sắc có thể biểu hiện sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, nước tiểu sẫm màu, phân màu xám, đau khớp và vàng da (vàng da và lòng trắng mắt).

Sàng lọc và chẩn đoán

vgc2

Hình ảnh Virus viêm gan C

Do thực tế là nhiễm HCV cấp tính thường không có triệu chứng, ít người được chẩn đoán trong giai đoạn cấp tính. Ở những người tiếp tục phát triển nhiễm HCV mãn tính, nhiễm trùng cũng thường không được chẩn đoán vì nhiễm trùng vẫn không có triệu chứng cho đến nhiều thập kỷ sau khi nhiễm trùng khi các triệu chứng phát triển thành tổn thương gan cấp hai.

Nhiễm HCV được chẩn đoán theo 2 bước:

- Khám sàng lọc kháng thể kháng HCV bằng xét nghiệm huyết thanh xác định những người đã bị nhiễm siêu vi khuẩn này.

- Nếu xét nghiệm dương tính với kháng thể kháng HCV, xét nghiệm acid nucleic cho axit ribonucleic HCV (RNA) là cần thiết để xác định nhiễm trùng mãn tính vì khoảng 30% người nhiễm HCV tự phát rõ ràng nhiễm trùng do đáp ứng miễn dịch mạnh mà không cần điều trị. Mặc dù không còn bị nhiễm, chúng vẫn sẽ xét nghiệm dương tính với kháng thể kháng HCV.

Sau khi một người đã được chẩn đoán mắc bệnh viêm gan C mãn tính, họ nên có một đánh giá về mức độ tổn thương gan (xơ hóa và xơ gan). Điều này có thể được thực hiện bằng sinh thiết gan hoặc thông qua một loạt các xét nghiệm không xâm lấn.

Ngoài ra, những người này nên có một xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để xác định kiểu gen của chủng viêm gan C. Có 6 kiểu gen của HCV và chúng đáp ứng khác nhau với điều trị. Hơn nữa, có thể một người bị nhiễm nhiều hơn 1 kiểu gen. Mức độ tổn thương gan và kiểu gen virus được sử dụng để hướng dẫn các quyết định điều trị và quản lý bệnh.

Chẩn đoán sớm có thể ngăn ngừa các vấn đề về sức khỏe có thể do nhiễm trùng và ngăn ngừa sự lây lan của vi-rút. WHO khuyến nghị sàng lọc những người có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn.

Dân số tăng nguy cơ nhiễm HCV bao gồm:

- Người tiêm chích ma tuý;

- Những người sử dụng thuốc tiêm;

- Người nhận các sản phẩm máu bị nhiễm hoặc các thủ thuật xâm lấn trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe có thực hành kiểm soát nhiễm trùng không đầy đủ;

- Trẻ em sinh ra từ các bà mẹ bị nhiễm HCV;

- Những người có bạn tình bị nhiễm HCV;

- Người nhiễm HIV;

- Tù nhân hoặc người bị giam giữ trước đây; và

- Những người đã xăm hoặc xâu khuyên tai.

Khoảng 2,3 triệu người trong số ước tính 36,7 triệu người sống chung với HIV trên toàn cầu có bằng chứng huyết thanh về nhiễm HCV trong quá khứ hoặc hiện tại. Ngược lại, trong số tất cả những người nhiễm HIV, tỷ lệ kháng HCV là 6,2%. Bệnh gan là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh suất và tử vong ở những người sống chung với HIV.

Phòng ngừa

Không có thuốc chủng ngừa viêm gan C, do đó việc phòng ngừa nhiễm HCV phụ thuộc vào việc giảm nguy cơ nhiễm vi-rút trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe và ở những nhóm có nguy cơ cao hơn, ví dụ như những người tiêm chích ma túy và qua tiếp xúc tình dục.

WHO đề xuất một số biện pháp hạn chế lây nhiễm HCV về các can thiệp dự phòng chính :

- vệ sinh tay: bao gồm chuẩn bị tay phẫu thuật, rửa tay và sử dụng găng tay;

- sử dụng tiêm an toàn và hợp lý;

- xử lý an toàn và xử lý các vật sắc nhọn và chất thải;

- cung cấp các dịch vụ giảm hại toàn diện cho người tiêm chích ma túy bao gồm xyranh tiêm chích vô trùng;

- xét nghiệm máu hiến tặng cho viêm gan B và C (cũng như HIV và giang mai);

- đào tạo cán bộ y tế; và

- khuyến khích sử dụng bao cao su khi quan hệ với bạn tình.

Nguồn: www.who.int › News › Fact sheets › Detail

 

 


You are here Đào tạo Tập san Y học Bệnh viêm gan siêu vi C