• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Kháng nội tiết trong điều trị ung thư vú: Cơ chế và điều trị

  • PDF.

Bs. Phạm Tấn Trà - 

Tổng quan:

Ung thư vú (UTV) là loại ung thư hay gặp ở phụ nữ. Khoảng 70% u vú bộc lộ thụ thể estrogen, gồm 2 dạng đồng phân: ERα- là dạng chủ yếu ở UTV và đích của liệu pháp nội tiết (LPNT); ERβ - dường như có tác dụng ngược lại và ức chế sự tăng sinh tế bào phụ thuộc estrogen. Vì vai trò rõ ràng của ERα trong UTV nên trong bài này ER ý chỉ ERα.

LPNT là một trong những lựa chọn tối ưu nhất đối với bệnh có với ER dương tính, ngoại trừ bệnh nhân đang rơi vào khủng hoảng tạng. LPNT cổ điển bao gồm điều hoà chọn lọc thụ thể estrogen (selective ER modulators, SERMs) hoặc làm giảm lượng estrogen ( ức chế men aromatase (aromatase inhibitors-AIs): anastrozole; letrozole; exemestane). Trong khi SERMs, như tamoxifen hiệu quả ở cả phụ nữ còn kinh lẫn phụ nữ mãn kinh, AIs chỉ nên dùng lúc mãn kinh. Khi dùng AIs ở phụ nữ tiền mãn kinh, ức chế buồng trứng nên dùng đồng thời.

Thách thức lớn khi điều trị UTV ER dương tính là khắc phục tình trạng kháng nội tiết. Kháng LPNT nguyên phát được định nghĩa là bệnh tái phát trong vòng 2 năm đầu dùng LPNT bổ trợ hoặc tiến triển trong 6 tháng đầu dùng LPNT bước 1 điều trị UTV tiến triển hay di căn. Kháng LPNT thứ phát được xác định trong UTV giai đoạn sớm là tình trạng tái phát xảy ra sau ít nhất 2 năm điều trị nội tiết và trong năm đầu hoàn thành LPNT bổ trợ. UTV tiến triển hoặc di căn, kháng thứ phát được xác định là tiến triển sau hơn 6 tháng dùng nội tiết.

Bài này sẽ tập trùng vào cơ chế, dấu diệu kháng nội tiế, đồng thời nêu ra chiến lực điều trị kháng LPNT hiện tại và tương lai.

khangnoitiet

Xem tiếp tại đây


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 24 Tháng 5 2024 17:32

You are here Đào tạo Tập san Y học Kháng nội tiết trong điều trị ung thư vú: Cơ chế và điều trị