• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Quản lý đường thở ở bệnh nhân nặng

  • PDF.

Bs Nguyễn Hoàng Kim Ngân - 

ĐƯỜNG THỞ KHÓ SINH LÝ

Quản lý đường thở ở bệnh nhân nặng là một nhiệm vụ đầy thử thách, với ước tính 45% nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi. Suy tuẩn hoàn (được định nghĩa trong hầu hết các nghiên cứu là có ít nhất 1 lần huyết áp tâm thu < 65 mmHg, hoặc < 90mmHg trên 30 phút; hoặc cần phải bắt đầu dùng hoặc tăng liều thuốc vận mạch hoặc được dùng dịch truyền cứu hộ) được quan sát thấy xảy ra đến 43% các thủ thuật. Giảm oxy máu nghiêm trọng (SpO2 < 80%) được báo cáo xảy ra với tỷ lệ 9%, và ngừng tim là 3% trong các thủ thuật.1 Thất bại trong lần đầu đặt nội khí quản làm tăng có ý nghĩa các nguy cơ sau khi đặt ống, và các bệnh nhân gặp biến cố bất lợi lớn sau khi đặt ống nội khí quản có nguy cơ phải vào khoa chăm sóc đặt biệt (ICU) cao hơn (tỷ lệ chênh đã điều chỉnh [aOR] 1,52, KTC 95% [95% CI] 1,26–1,83); và có tỷ lệ tử vong trong 28 ngày cao hơn (aOR 1,44, 95% CI 1,19–1,74).1 Tần suất các biến cố bất lợi trong đơn vị chăm sóc đặc biệt cao hơn đáng kể so với trong phòng phẫu thuật, nguyên nhân một phần do tìn trạng rối loạn sinh lý tiềm ẩn và dự trữ chức năng kém ở các bệnh nhân ICU. Rối loạn tiềm ẩn chức năng tâm thu, chức năng tâm trương, hoặc cả hai, giảm oxy máu hoặc toan chuyển hoá khiến bệnh nhân ICU chịu nhiều tác động có hại hơn do tác dụng hạ huyết áp của thuốc gây mê, sự ngưng thở và áp lực trong lồng ngực chuyển từ áp lực âm sang áp lực dương.2 Những thách thức cụ thể này được định nghĩa là “đường thở khó sinh lý”, trái ngược với “đường thở khó giải phẫu” có thể hay gặp hơn ở các bệnh nhân phẫu thuật theo chương trình.3 Tuy nhiên, các khó khăn về giải phẫu có thể gặp phải ở các bệnh nhân nặng. Việc thiếu các thiết bị (vd, đèn soi thanh quản có camera hoặc dụng cụ hỗ trợ đặt ống nội khí quản như bougies) và người thực hiện có kỹ năng, cùng với công thái học khó khăn (vd, sự hiện diện của các thiết bị theo dõi cồng kềnh hoặc các thiết bị hỗ trợ cơ quan làm giảm không gian xung quanh giường bệnh nhân và cản trở vị trí tốt nhất để tiếp cận đường thở của người thực hiện), có thể làm tăng các rủi ro liên quan đến việc quản lý đường thở ở cả khoa Cấp cứu (ED) và ICU .1,3,4 

THOKHO

Xem tiếp tại đây

Tóm tắt hướng dẫn thực hành lâm sàng về quản lý dược ở người trưởng thành mắc rối loạn lipid máu theo Hiệp hội nội tiết lâm sàng Hoa Kỳ 2025

  • PDF.

BS. Đặng Thị Quỳnh Chi - 

1. Để phòng ngừa ban đầu bệnh lý rối loạn lipid máu ở người trưởng thành, Hiệp hội nội tiết lâm sàng Hoa Kỳ (AACE) khuyến nghị sử dụng một công cụ hoặc máy tính đã được kiểm chứng để dự đoán nguy cơ mắc các biến cố bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch (ASCVD) trong tương lai như một phần của quá trình ra quyết định chung về điều trị.

Đánh giá nguy cơ ASCVD là một thành phần thiết yếu trong việc quản lý rối loạn lipid máu lấy người bệnh làm trung tâm. Tuy nhiên, việc bổ sung định lượng CAC (coronary artery Calcium), ApoB (apolipoprotein B) và Lp(a) (lipoprotein a ) để áp dụng rộng rãi còn hạn chế. Những xét nghiệm bổ sung này có thể cân nhắc đối với những người có nguy cơ trung bình, hiểu rõ chi phí tiềm ẩn của việc xét nghiệm bổ sung này và coi trọng thông tin nguy cơ được cung cấp từ việc sử dụng điểm CAC, ApoB và/hoặc Lp(a) để đưa ra quyết định điều trị.

2. Ở người trưởng thành mắc rối loạn lipid máu đang dùng statin dung nạp tối đa và bị ASCVD hoặc có nguy cơ mắc ASCVD cao hơn nhưng chưa đạt mục tiêu (LDL-C <70 mg/dL), AACE khuyến nghị sử dụng evolocumab hoặc alirocumab kết hợp với điều trị thông thường.

3. Ở người trưởng thành mắc rối loạn lipid máu không mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch (ASCVD), AACE khuyến cáo không sử dụng thêm evolocumab hoặc alirocumab.

4. Không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo ủng hộ hay phản đối việc sử dụng inclisiran ở người trưởng thành mắc rối loạn lipid máu. Nhìn chung, có rất ít thử nghiệm và biến cố tim mạch để có thể xác định sự cân bằng giữa lợi ích và tác hại tiềm ẩn của việc sử dụng inclisiran kết hợp với điều trị thông thường. Cần có các thử nghiệm về kết cục tim mạch dài hạn với đầy đủ dữ liệu.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 27 Tháng 7 2025 17:33

Giảm tiểu cầu ở bệnh nhân xơ gan

  • PDF.

BS. Trần Thị Minh Thịnh - 

I. Đại cương

Giảm tiểu cầu (số lượng tiểu cầu thấp) thường gặp ở những người bị xơ gan, tỷ lệ giảm tiểu cầu dao động từ 6% đến 78%, tăng dần từ những bệnh nhân bị xơ gan còn bù sang những bệnh nhân bị xơ gan mất bù. Có nhiều yếu tố gây ra tình trạng này, bao gồm lách to và giảm sản xuất tiểu cầu. Giảm tiểu cầu nghiêm trọng có thể làm tăng nguy cơ chảy máu nghiêm trọng.

Giảm tiểu cầu ở bệnh nhân xơ gan được định nghĩa khi tiểu cầu (PLT) máu ngoại vi <100.000/mm3. Giảm tiểu cầu không những tăng nguy cơ chảy máu mà còn liên quan quá trình tái phục hồi tế bào gan, là một dự báo quan trọng biến cố mất bù ở bệnh nhân xơ gan. Tuy nhiên nếu giảm tiểu cầu đột ngột cần loại trừ các nguyên nhân khác như đông máu nội mạch lan toả, nhiễm trùng, do thuốc.....

II. Cơ chế

Ba cơ chế chính liên quan giảm tiểu cầu ở bệnh nhân xơ gan gồm:

  • Giảm sản xuất tiểu cầu do giảm tổng hợp thrombopoietin (TPO) từ gan và tuỷ xương
  • Tăng bắt giữ tiểu cầu tại lách do cường lách
  • Tăng phá huỷ tiểu cầu do tăng ly giải fibrin hoặc tăng sản xuất kháng thể kháng tiểu cầu

TIEUCAUGIAM

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 27 Tháng 7 2025 08:00

Tiền oxy hóa và phòng ngừa tụt oxy trong quản lý đường thở cấp cứu

  • PDF.

Bs Trần Minh Quang - 

TÓM TẮT

Bệnh nhân cần xử lý đường thở khẩn cấp có nguy cơ cao bị tụt oxy máu do bệnh lý phổi nguyên phát, nhu cầu chuyển hóa cao, thiếu máu, suy giảm khả năng hô hấp, và không thể bảo vệ đường thở chống lại nguy cơ hít sặc. Việc đặt nội khí quản thường cần thiết ngay cả khi chưa có đầy đủ thông tin để đánh giá nguy cơ thiếu oxy máu quanh thủ thuật, chẳng hạn như khí máu động mạch, giá trị hemoglobin, hoặc X-quang ngực. Bài báo này tổng quan các kỹ thuật dự trữ oxy và cung cấp oxy trong giai đoạn đặt nội khí quản nhằm giảm nguy cơ thiếu oxy nghiêm trọng, đồng thời giới thiệu một mô hình phân tầng nguy cơ để dự đoán khả năng tụt oxy máu.

GIỚI THIỆU

Quản lý đường thở khẩn cấp luôn tiềm ẩn rủi ro. Nhiều bệnh nhân cấp cứu bị thiếu oxy máu hoặc tụt oxy máu nặng trước khi can thiệp đặt nội khí quản được thực hiện. Mặc dù mục tiêu của đặt nội khí quản là cải thiện quá trình oxy hóa, nhưng bản thân thủ thuật này lại làm gián đoạn hô hấp và có thể dẫn đến thiếu oxy nghiêm trọng nếu không được chuẩn bị và thực hiện đúng cách.

tihnoxy

Phần lớn các ca đặt nội khí quản khẩn cấp diễn ra trước khi có kết quả xét nghiệm khí máu động mạch, hemoglobin, hoặc hình ảnh học. Ngoài ra, các tình huống cấp cứu như co giật, ngừng tim, phù phổi, hoặc chấn thương sọ não không cho phép trì hoãn để có thêm thông tin. Do đó, bác sĩ phải áp dụng những chiến lược tối ưu hóa oxy hóa ngay cả khi thông tin bệnh nhân còn thiếu sót.

Tiền oxy hóa và các phương pháp cung cấp oxy quanh thời điểm đặt nội khí quản (per-intubation) là những công cụ thiết yếu nhằm ngăn ngừa thiếu oxy máu trong thủ thuật. Dưới đây, chúng tôi mô tả các kỹ thuật này và đề xuất một hệ thống phân tầng nguy cơ giúp hướng dẫn lựa chọn chiến lược phù hợp.

Xem tiếp tại đây

Nôn nghén quá độ

  • PDF.

BS Nguyễn Thế Tuấn - 

Ốm nghén, với các triệu chứng buồn nôn và nôn, là một dấu hiệu khá phổ biến ở phụ nữ mang thai, thường xuất hiện vào khoảng tuần thứ 9 của thai kỳ và giảm dần sau đó. Tuy nhiên, khoảng 1 đến 1,5% phụ nữ mang thai có thể mắc phải nôn nghén quá độ. Tình trạng này được định nghĩa là buồn nôn và nôn dữ dội, dai dẳng trong thai kỳ, dẫn đến:

  • Sụt cân từ 5% trở lên so với cân nặng trước khi mang thai.
  • Mất nước.
  • Rối loạn điện giải.

Nôn nghén quá độ có thể kéo dài suốt thai kỳ và gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

I. Nguyên nhân gây nôn nghén quá độ

Mặc dù nguyên nhân chính xác của nôn nghén quá độ vẫn chưa được xác định rõ ràng, có một số yếu tố được cho là đóng vai trò quan trọng:

  • Hormone thai kỳ: Nồng độ cao của beta-hCG (Human Chorionic Gonadotropin), một loại hormone do nhau thai sản xuất, được xem là yếu tố chính. Nồng độ beta-hCG thường đạt đỉnh vào khoảng thời gian mà các triệu chứng nôn nghén quá độ trở nên nghiêm trọng nhất.
  • Estrogen: Nồng độ estrogen tăng cao cũng có thể góp phần vào các triệu chứng.
  • Yếu tố di truyền: Tiền sử gia đình có người mắc nôn nghén quá độ hoặc bản thân đã từng bị ở những lần mang thai trước có thể làm tăng nguy cơ.
  • Đa thai: Phụ nữ mang đa thai thường có nồng độ hormone cao hơn, do đó nguy cơ mắc HG cũng cao hơn.
  • Các bệnh lý liên quan: bệnh lý tuyến giáp, cường giáp thoáng qua cũng có thể liên quan đến nôn nghén quá độ.

nonghen

Đọc thêm...

You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV