• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Khởi trị sớm nhóm thuốc ức chế SGLT2 cho bệnh nhân suy tim cấp giai đoạn nhập viện

  • PDF.

BS. Bùi Văn Bình - 

I. MỞ ĐẦU

Suy tim cấp (STC) là một tình trạng lâm sàng nghiêm trọng, đòi hỏi phải nhập viện khẩn cấp và thường đi kèm với tỷ lệ tử vong cao cũng như nguy cơ tái nhập viện đáng kể. Các lựa chọn điều trị hiện tại cho STC bao gồm thuốc lợi tiểu quai, chủ yếu tập trung vào việc giảm sung huyết và cải thiện triệu chứng. Mặc dù thuốc lợi tiểu quai vẫn là nền tảng của việc quản lý STC nhưng chúng chưa chứng minh được hiệu quả giảm tử vong đáng kể và có liên quan đến các tác dụng phụ trên thận. Nhiều thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên kiểm tra các can thiệp dược lý ở những bệnh nhân nhập viện vì STC không tìm thấy kết quả cải thiện sau khi xuất viện, làm nổi bật một nhu cầu quan trọng trong việc điều trị bệnh nhân STC. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới nhằm cải thiện tiên lượng cho người bệnh luôn là ưu tiên hàng đầu.

Thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2i) là một nhóm thuốc có tác dụng hạ đường huyết độc đáo. Chúng tác động lên các ống lượn gần để ức chế tái hấp thu glucose và natri, do đó thúc đẩy glucose niệu và natri niệu ở bệnh nhân tiểu đường týp 2. Ngoài vai trò trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường, các chất ức chế SGLT2 đã cho thấy những lợi ích tim mạch vượt trội trong các thử nghiệm lâm sàng, làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong. Đáng chú ý, những loại thuốc này đã được phát hiện là làm giảm nguy cơ nhập và tử vong do tim mạch, bất kể tình trạng tiểu đường và phân suất tống máu (EF), với lợi ích được quan sát thấy ở cả suy tim có EF giảm (HFrEF) và EF bảo tồn (HFpEF) ."Hiệu ứng nhóm" có lợi này đã được chứng minh một cách nhất quán trên nhiều chất ức chế SGLT2 khác nhau

sglt2

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 02 Tháng 11 2025 20:20

Vạt nhánh xuyên động mạch quay

  • PDF.

TT CTCH - Bỏng

GIỚI THIỆU

Vạt cẳng tay quay, được biết đến ở nước ngoài với tên gọi “vạt Trung Quốc (Chinese flap)”, được Guofan Yang báo cáo lần đầu tiên vào năm 1981 và nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng ngay từ giai đoạn đầu sau khi được giới thiệu.

Tuy nhiên, chỉ định của loại vạt này ngày càng bị thu hẹp, do phải hi sinh một trong hai động mạch chính của cẳng tay và do sẹo ghép da xấu ở vùng cho vạt.

Trước những hạn chế đó, các học giả trong và ngoài Trung Quốc đã tiến hành nhiều nghiên cứu giải phẫu về các nhánh xuyên ở mặt quay của cẳng tay, từ đó đề xuất một loạt kỹ thuật phẫu thuật cải tiến, bao gồm:

  • Vạt nhánh xuyên động mạch quay đoạn gần (proximal radial artery perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên mặt sau – ngoài cẳng tay giữa (posterolateral mid-forearm perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên động mạch quay đoạn xa (distal radial artery perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên vùng hố lào (snuff-box radial perforator flap).

vat

Xem tiếp tại đây

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản trong bệnh lý ho ra máu

  • PDF.

CN Trần Đình Vân – 

Tổng quan

Chụp CT( Chụp cắt lớp vi tính: Computed Tomography Scan ) động mạch phế quản là kỹ thuật sử dụng tia X để tạo ảnh chụp chi tiết các động mạch phế quản, thường kết hợp với tiêm thuốc cản quang để làm nổi bật các mạch máu, giúp bác sĩ chẩn đoán và đánh giá các bệnh lý như ho ra máu do giãn phế quản hoặc khối u

Chụp CT động mạch phế quản là một trong những phương pháp chẩn đoán hình ảnh nhanh, ít xâm lấn và cho độ nhạy cao.

1. Giải phẫu

Các động mạch phế quản bình thường là các mạch máu nhỏ # <1.5mm ( hình 1|), chủ yếu xuất phát từ động mạch chủ ngực (ngang đốt sống ngực D5-D6), một tỉ lệ nhỏ xuất phát từ các nhánh của động mạch chủ như động mạch dưới đòn, động mạch nách, động mạch hoành dưới... Nhưng dù xuất phát ở đâu chúng đều đi qua rốn phổi vào phổi, rồi chia ra các nhánh tuỳ hành với phế quản, cấp máu nuôi dưỡng đường thở (cây phế quản) và nhu mô phổi (phế nang, tổ chức kẽ của phổi) .

Động mạch phế quản gọi là giãn khi mạch máu   # >2mm ( hình 2) sẽ cho hình ảnh rõ trên CTA (computed tomography angiography ) động mạch phế quản.

ctpq

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 25 Tháng 10 2025 07:40

Thai nghén thất bại sớm

  • PDF.

Bs Đinh Thị Thu Trang - 

ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ

Khái niệm thai sinh hóa (biochemical prenancy) dùng chỉ các tình trạng có hiện diện đơn độc b-hCG trong huyết thanh, mà không kèm theo bất cứ một dấu hiệu chắc chắn nào khác của có thai.

Khái niệm thai lâm sàng dùng để chỉ các thai kỳ được nhận diện qua thăm khám lâm sàng hay qua khảo sát hình ảnh. Thai lâm sàng có thể tiếp tục tiến triển thành công và kết cục bằng trẻ sinh sống hoặc thất bại trong việc tiến triển được gọi là thai nghén thất bại sớm.

Thai nghén thất bại sớm (Early Pregnancy Failure) như trứng trống (có túi thai nhưng bên trong túi thai này không chứa phôi thai) hoặc túi thai với phôi thai nhưng không có tim thai. Khái niệm này không bao gồm tình trạng thại sinh hóa.

tntbsom

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

  • Khoảng 50% thai ngừng tiến triển sớm do bất thường nhiễm sắc thể.
  • Các yếu tố nguy cơ phổ biến: mẹ lớn tuổi, có tiền căn thai lưu sớm.
  • Có nhiều nguyên nhân gây nên thai ngưng tiến triển sớm như: mẹ nhiễm rubella, cúm; nhiễm toxoplasma; sốt rét, viêm phổi, thương hàn, các chấn thương tâm lý như sợ hãi, xúc động quá mức.
  • U xơ tử cung dưới niêm mạc sẽ cản trở quá trình làm tổ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển các mạch máu tử cung nhau gây nên tình trạng thai ngừng phát triển.
  • Chấn thương trực tiếp vào vùng bụng.
  • Dị dạng tử cung, dính buồng tử cung, dị dạng dây rốn, hoại thư bánh nhau …
  • Tất cả các rối loạn về nội tiết như: cường giáp, suy giáp, tiểu đường, hội chứng cushing, suy hoàng thể … có thể gây nên tình trạng thai ngừng tiến triển.
  • Tác nhân phóng xạ, thuốc lá, chất hóa học …
  • Ngoài ra tuổi mẹ trên 40 tuổi, đời sống kinh tế thấp cũng góp phần tăng tỷ lệ thai ngừng tiến triển.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 22 Tháng 10 2025 10:46

Phòng ngừa và quản lý nhận thức ngoài ý muốn trong gây mê

  • PDF.

Bs. Hồ Thiên Diễm - 

Nhận thức ngoài ý muốn trong quá trình gây mê (Accidental awareness during general anesthesia: AAGA) hay thức tỉnh trong gây mê xảy ra khi độ sâu của thuốc mê không đủ để đạt được trạng thái bất tỉnh, bệnh nhân lại các sự kiện đã xảy ra trong khi gây mê, bao gồm đau đớn, áp lực, tê liệt, nghe thấy tiếng động, hoặc cảm giác tử vong sắp xảy ra, nó có thể dẫn đến những di chứng tâm lý đáng kể, bao gồm lo âu, trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). Tình trạng này thường gây ra chấn thương tâm lý cho người bệnh, có thể xảy ra ở các trường hợp bênh nhân có nguy cơ cao như bệnh nhân đa chấn thương, phẫu thuật tim, hoặc mổ lấy thai khẩn cấp. 

Đã có một số nghiên cứu tìm hiểu tần suất xảy AAGA, tỷ lệ mắc AAGA dao động từ 1:1000 đến 1:20.000, với nhiều biến thể phụ thuộc vào các biến số trong kỹ thuật gây mê, quần thể bệnh nhân và bối cảnh/thủ thuật phẫu thuật.

nhanthuc

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 29 Tháng 9 2025 15:42

You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV