• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí cho trẻ khe hở môi – vòm miệng từ 27/5/2024 tại BVĐKQN – Liên hệ: Bs CK2 Nguyễn Minh Đức 0905309192. Xem THÔNG BÁO!

Y học thường thức

Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS) trong phẫu thuật tiết niệu lớn

  • PDF.

Bs Lê Văn Thức - 

1. ĐẠI CƯƠNG.

Kỷ nguyên mới của y học chu phẫu, bao gồm các phác đồ tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS), nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp tiếp cận đa phương thức đối với bệnh nhân phẫu thuật. Mục tiêu quan trọng nhất của phương pháp tiếp cận đa phương thức là cải thiện tình trạng trước phẫu thuật của bệnh nhân và duy trì cân bằng nội môi chu phẫu bằng cách giảm thiểu căng thẳng và phản ứng viêm. Phương pháp mới này lần đầu tiên được sử dụng trong phẫu thuật đại trực tràng và sau đó bắt đầu mở rộng sang tất cả các loại phẫu thuật khác. Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến các phác đồ ERAS tiết niệu, chủ yếu là cắt bàng quang triệt để (RC) và cắt bỏ tuyến tiền liệt triệt để (RP). Những ca phẫu thuật này liên quan đến việc cắt bỏ rộng rãi, tăng nguy cơ chảy máu trong phẫu thuật và truyền máu cũng như tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật cao. Ngoài ra, bệnh nhân trải qua các cuộc phẫu thuật tiết niệu lớn thường là người già và mắc các bệnh tim mạch cũng như các bệnh đi kèm khác, thiếu máu, nhiễm trùng và suy dinh dưỡng.

2. NỘI DUNG

2.1. Chuẩn bị trước phẫu thuật

2.1.1. Tư vấn

Tư vấn trước khi nhập viện là một bước quan trọng trong ERAS, thúc đẩy trao quyền cho bệnh nhân, giảm lo lắng và nâng cao kết quả chu phẫu. Bệnh nhân được hưởng lợi từ việc hiểu rõ hành trình phẫu thuật của mình trước khi nhập viện, dẫn đến quá trình chuyển tiếp suôn sẻ hơn và khả năng hồi phục được cải thiện.

bladder

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 15 Tháng 4 2024 15:35

Đau cơ

  • PDF.

Ds Phan Thị Bích Ngọc - 

Mọi người đều bị đau cơ (đau cơ) vào một thời điểm nào đó trong đời, cho dù do gắng sức quá mức, chấn thương hay bệnh tật. May mắn thay, có nhiều lựa chọn, bao gồm nghỉ ngơi, xoa bóp và dùng thuốc để giảm đau.

Loại đau cơ phổ biến nhất là do gắng sức quá mức, lặp đi lặp lại sự co cơ không quen, thường là do chơi thể thao hoặc tập thể dục khác. Đau nhức cơ bắp xuất hiện muộn, thường từ 8 giờ trở lên và thường đạt đỉnh điểm sau 24 đến 48 giờ nhưng có thể kéo dài trong nhiều ngày. Đau do gắng sức quá mức thường gặp ở những người không tập thể dục thường xuyên nhưng sau đó bắt đầu chế độ tập luyện ở cường độ cao. Căng thẳng hoặc tư thế sai cũng có thể gây ra loại đau cơ này.

Cơn đau do chấn thương hoặc chấn thương cơ, dù do sử dụng quá mức hay bị kéo hoặc vặn bất ngờ, thường sắc nét và rắc rối hơn cơn đau do gắng sức quá mức đơn giản và mất nhiều thời gian hơn để giải quyết, thường trở thành mãn tính.

Cuối cùng, đau cơ có thể do nhiễm trùng toàn thân (ví dụ như cúm), rối loạn mãn tính (ví dụ như đau cơ xơ hóa hoặc lupus) hoặc do thuốc, bao gồm thuốc ức chế ACE (“angiotensin-converting enzyme”: Thuốc ức chế men chuyển angiotensin ) và statin.

dauco

Xem tiếp tại đây

 

Virus cúm A

  • PDF.

CN Trần Thị Nguyệt Ánh - 

Có bốn loại vi-rút cúm (cúm): A, B, C và D. Các loài chim thủy sinh hoang dã, bao gồm mòng biển, nhạn biển, chim biển và các loài chim nước hoang dã, như vịt, ngỗng và thiên nga được coi là ổ chứa (vật chủ) của vi-rút cúm gia cầm A. Hiện nay, ở thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện ca nhiễm cúm gia cầm H5N9 đầu tiên ở người. Chúng ta vẫn chưa phát hiện được ổ dịch và đường lây của chủng virus này.

Các phân nhóm của vi-rút cúm A

Virus cúm A được chia thành các phân nhóm dựa trên hai loại protein trên bề mặt virus: hemagglutinin (HA) và neuraminidase (NA). Có 18 phân nhóm HA đã biết và 11 phân nhóm NA đã biết. Ở chim, người ta đã xác định được 16 phân nhóm HA và 9 phân nhóm NA. (Hai phân nhóm bổ sung, H17N10 và H18N11, đã được xác định ở loài dơi.) Có thể có nhiều sự kết hợp khác nhau giữa protein HA và NA. Ví dụ: “vi-rút A(H7N2)” chỉ một loại vi-rút cúm A có protein HA 7 và protein NA 2. Tương tự, vi-rút “A(H5N1)” có protein HA 5 và protein NA 1.

cumA

Hình ảnh rửa tay khi nhiễm virus cúm gia cầm

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 10 Tháng 4 2024 16:29

Sinh hoạt chuyên đề công tác vệ sinh tại bệnh viện đa khoa Quảng Nam

  • PDF.

Bs Trần Hữu Thọ - 

Thực hiện Kế hoạch số 104/ KH-BV ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Bệnh viện đa khoa Quảng Nam về việc Tổ chức sinh hoạt chuyên đề cho nhân viên vệ sinh Bệnh viện năm 2024.

Cùng tham dự buổi sinh hoạt có Ths ĐD. Nguyễn Thị Phước - Trưởng phòng Điều dưỡng Bệnh viện, các thành viên trong Hội đồng Điều dưỡng và tất cả nhân viên vệ sinh làm việc tại Bệnh viện.

Nội dung buổi sinh hoạt: Nhằm mục đích bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về vệ sinh và kiểm soát nhiễm khuẩn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác vệ sinh vệ sinh, đảm bảo môi trường Bệnh viện xanh, sạch, đẹp và an toàn.

Trong buổi sinh hoạt và tổng kết công tác vệ sinh quý I, Ths. Nguyễn Thị Phước khẳng định sự cần thiết về việc cập nhật các thông tin kiến thức và vai trò quan trọng của công tác vệ sinh Bệnh viện để nâng cao hiệu quả vệ sinh môi trường cũng như đáp ứng sự hài lòng người bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả công tác vệ sinh của nhân viên vệ sinh toàn Bệnh viện.

SHCD1

Tiếp tục buổi sinh hoạt chuyên đề CN Phạm Thị Sang Điều dưỡng trưởng Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn “Hướng dẫn phân loại, thu gom vận chuyển chất thải rắn y tế”

SHCD2

Sau buổi sinh hoạt chuyên đề nhân viên vệ sinh toàn viện được cập nhật nhiều kiến thức bổ ích trong công việc hằng ngày. Đồng thời nêu lên được những khó khăn, vướng mắc, đề ra các giải pháp phù hợp giúp nhân viên vệ sinh thực hiện đúng theo quy định của Bệnh viện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

SHCD3

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 09 Tháng 4 2024 18:48

Thuốc ức chế SGLT-2 cho bệnh nhân suy tim cấp, khi nào và như thế nào?

  • PDF.

Bs. Nguyễn Lương Quang -

Cùng với các nhóm thuốc: Ức chế hệ renin-angiotensin, chẹn beta giao cảm, đối kháng thụ thể mineralocorticoid, thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển Natri-glucose 2 tại ống thận (ức chế SGLT2) được xem là tứ trụ trong điều trị suy tim mạn với phân suất tống máu giảm, giúp giảm tử vong, giảm nhập viện vì suy tim, cải thiện triệu chứng suy tim. Tuy nhiên với suy tim cấp tính, theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Việt Nam 2022, cần đánh giá trước khi ra viện và kế hoạch điều trị sau khi ra viện. Điều trị nội khoa tối ưu đóng vai trò quan trọng trong cải thiện tiên lượng gần ở người bệnh suy tim cấp. Khởi trị SGLT2i sớm cho các bệnh nhân suy tim cấp giai đoạn ổn định trước khi ra viện kèm hoặc không kèm đái tháo đường được chứng minh giảm sớm tổng biến cố tim mạch gồm tử vong, suy tim và cải thiện thang điểm chất lượng cuộc sống. Như vậy, với suy tim cấp, chúng ta sẽ khởi trị SGLT2i khi nào và như thế nào?

Thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) được phát hiện vào năm 2011 là một nhóm thuốc hạ đường huyết mới qua cơ chế tăng bài tiết glucose qua nước tiểu do ức chế tái hấp thu glucose ở ống lượn gần, nhưng từ đó người ta đã phát hiện ra rằng chúng có nhiều lợi ích về tim mạch ngoài việc hạ đường huyết, đáng chú ý, chúng làm giảm nồng độ NT-proBNP, có thể là yếu tố chính quyết định kết quả lâm sàng được cải thiện bất kể phân suất tống máu thất trái.

Ở bệnh nhân suy tim mạn, SGLT2i là một trong tứ trụ, nhưng với suy tim sung huyết nhập viện, thường sẽ dùng lợi tiểu ổn định suy tim vài ngày trước khi dùng SGLT2i do quan ngại tính an toàn của thuốc. Một câu hỏi đặt ra là trong suy tim cấp SGLT2i có an toàn và hiệu quả không?

sgl1

Đọc thêm...

You are here Tin tức Y học thường thức