• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tin tức – sự kiện

Sử dụng thuốc ở người cao tuổi

  • PDF.

Ds Lê Thị Thế Cường - 

Người cao tuổi (NCT) là nhóm đối tượng đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe. Do sự thay đổi sinh lý theo tuổi tác, việc sử dụng thuốc ở người già cần được quan tâm đúng mức. Việc dùng thuốc không hợp lý có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như tác dụng phụ, tương tác thuốc hoặc ngộ độc thuốc. Tiểu luận này sẽ đề cập đến đặc điểm, rủi ro và giải pháp trong sử dụng thuốc ở người cao tuổi.

1. Đặc điểm sinh lý ảnh hưởng đến dùng thuốc

Ở người cao tuổi, chức năng gan và thận – cơ quan chính trong chuyển hóa và thải trừ thuốc – bị suy giảm. Đồng thời, các thay đổi ở hệ tiêu hóa như giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch tiêu hóa cũng làm thay đổi hấp thu thuốc. Ngoài ra, tỷ lệ nước trong cơ thể giảm và mỡ tăng cũng ảnh hưởng đến phân bố thuốc trong máu.

ncaotuoi

Xem tiếp tại đây

Glaucoma tân mạch là gì?

  • PDF.

Bs. Lê Văn Hiếu – 

Glaucoma tân mạch là một hình thái glaucoma thứ phát gây ra bởi sự tăng sinh của tổ chức xơ mạch tại vùng góc tiền phòng xảy ra khi thiếu máu võng mạc hoặc thể mi.

tanmach

Glaucoma tân mạch là gì?

Glaucoma tân mạch (Neovascular Glaucoma - NVG) là một loại glaucoma thứ phát liên quan đến các rối loạn làm giảm lưu lượng máu đến võng mạc (lớp nhạy cảm ánh sáng ở bán phần sau của mắt).

tanmach2

Khi võng mạc không nhận đủ lưu lượng máu, nó sẽ sản sinh ra yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu ((vascular endothelial growth factor - VEGF) giúp hình thành các mạch máu mới. Tuy nhiên, các mạch máu mới này bị rò rỉ và có thể gây chảy máu và gây phản ứng viêm, sau đó là tạo sẹo. Chúng cũng có thể phát triển ở vị trí không mong muốn trong mắt. Khi các mạch máu mới hình thành trên các ống dẫn lưu thuỷ dịch ở góc tiền phòng của mắt, thuỷ dịch sẽ bị chặn không thoát ra qua mạng lưới vùng bè. Điều này dẫn đến nhãn áp cao có thể làm tổn thương không hồi phục dây thần kinh thị giác.

Các triệu chứng của Glaucoma tân mạch có thể bao gồm đau hoặc khó chịu, đỏ mắt và mất thị lực. Loại glaucoma này không bao giờ tự xảy ra và luôn liên quan đến các bất thường khác, chẳng hạn như tắc tĩnh mạch võng mạc hay bệnh lý võng mạc do đái tháo đường.

tanmach3

Bệnh Glaucoma tân mạch được điều trị như thế nào?

Việc điều trị bệnh tăng nhãn áp tân mạch có hai phương pháp.

Bệnh lý võng mạc tiềm ẩn được điều trị bằng cách tiêm thuốc chống VEGF và điều trị bằng laser võng mạc để giảm hoặc loại bỏ sự phát triển liên tục của các tân mạch. Đồng thời, bệnh glaucoma được điều trị bằng thuốc hạ nhãn áp.

Trong Glaucoma tân mạch, thuốc hạ nhãn áp thường không hiệu quả lắm và hầu hết bệnh nhân cần một số loại thủ thuật hạ nhãn áp như đặt van dẫn lưu tiền phòng, hoặc quang đông thể mi. Phương pháp điều trị được lựa chọn phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh và mức độ thị lực đã mất.

tanmach4

Có thể phòng bệnh Glaucoma tân mạch không?

Vì Glaucoma tân mạch khó điều trị nên phòng bệnh (nếu có thể) là giải pháp được ưu tiên. Bệnh nhân có nguy cơ cao mắc Glaucoma tân mạch, chẳng hạn như những người mắc bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh, nên khám mắt thường xuyên và cẩn thận. Bác sĩ nhãn khoa sẽ tầm soát đáy mắt và kiểm tra cẩn thận mống mắt và góc tiền phòng để tìm dấu hiệu của tân mạch.

Bệnh Glaucoma tân mạch luôn khó điều trị, nhưng trong nhiều trường hợp, thị lực có thể được bảo tồn, đặc biệt là nếu Glaucoma tân mạch được phát hiện và điều trị sớm trong quá trình phát triển bệnh.

Nguồn: https://glaucoma.org/types/neovascular-glaucoma

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 26 Tháng 6 2025 16:20

Nhân một trường hợp viêm lao trên u Warthin tuyến nước bọt mang tai

  • PDF.

Bác sĩ Trần Thị Thuỳ Trang - Khoa GPB

Tổng quan:

Bệnh lao tuyến nước bọt là một thể bệnh hiếm gặp, chiếm khoảng 2,5% -10% tổn thương ở tuyến nước bọt mang tai. Hai bệnh cảnh lâm sàng thường gặp của bệnh lao tuyến nước bọt mang tai, bao gồm tình trạng viêm lan toả, gần giống như một tình trạng nhiễm trùng thông thường; còn lại là bệnh cảnh biểu hiện bằng một khối sưng, tấy ở tuyến nước bọt, lớn chậm, mật độ chắc, tiến triển mạn tính dễ gây nhầm lẫn với u. Hầu hết những bệnh nhân này được chẩn đoán sau khi phẫu thuật cắt bỏ u tuyến nước bọt thông qua hình thái mô bệnh học.

U Warthin tuyến nước bọt là loại u thường gặp trong bệnh lý lành tính tuyến nước bọt, đứng hàng thứ 2 sau u hỗn hợp tuyến nước bọt. Tuy nhiên, bệnh cảnh viêm lao trong bối cảnh u Warthin tuyến nước bọt là một hình thái rất hiếm gặp. Chỉ có vài ca trên thế giới được báo cáo trên y văn. Dưới đây là một báo cáo về ca lâm sàng viêm lao tuyến nước bọt mang tai trên bệnh cảnh u Warthin tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam.

umt

Hình ảnh đại thể u tuyến mang tai  

Xem tiếp tại đây

Ký sinh trùng sốt rét

  • PDF.

CNXN Trần Thị Thanh Lý - Khoa HH-TM

I. Giới thiệu

Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium gây ra, được truyền sang người qua vết đốt của muỗi cái Anopheles. Đây là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến và nguy hiểm nhất trên thế giới, đặc biệt ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như châu Phi, Đông Nam Á, Nam Mỹ.

II. Tác nhân gây bệnh

Ký sinh trùng gây bệnh sốt rét thuộc giống Plasmodium, gồm 5 loài chính có khả năng gây bệnh ở người:

  • Plasmodium falciparum – gây sốt rét ác tính, nguy cơ tử vong cao.
  • Plasmodium vivax – phổ biến, có thể gây tái phát do thể ngủ (hypnozoite).
  • Plasmodium ovale – ít gặp, cũng có khả năng tái phát.
  • Plasmodium malariae – chu kỳ sốt cách 72 giờ (sốt cách nhật).
  • Plasmodium knowlesi – lây từ khỉ sang người, chủ yếu ở Đông Nam Á.

kstrsr

Muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh chính

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 24 Tháng 6 2025 18:20

Tầm quan trọng của công tác văn thư, lưu trữ trong bối cảnh chuyển đổi số

  • PDF.

Phòng HCQT - 

Công tác văn thư, ngày 05/3/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2020/NĐ-CP. Trong đó, tại Điều 4 Chính phủ quy định rõ “Công tác văn thư được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật”. “Văn bản của cơ quan, tổ chức phải được soạn thảo và ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật: Đối với văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đối với văn bản chuyên ngành do người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực căn cứ Nghị định này để quy định cho phù hợp; đối với văn bản hành chính được thực hiện theo quy định tại Chương II Nghị định này. Tất cả văn bản đi, văn bản đến của cơ quan, tổ chức phải được quản lý tập trung tại Văn thư cơ quan để làm thủ tục tiếp nhận, đăng ký, trừ những loại văn bản được đăng ký riêng theo quy định của pháp luật. Văn bản đi, văn bản đến thuộc ngày nào phải được đăng ký, phát hành hoặc chuyển giao trong ngày, chậm nhất là trong ngày làm việc tiếp theo. Văn Bản đến có các mức độ khẩn: “Hỏa tốc”, “Thượng khẩn” và “Khẩn” (sau đây gọi chung là văn bản khẩn) phải được đăng ký, trình và chuyển giao ngay sau khi nhận được. Văn bản phải được theo dõi, cập nhật trạng thái gửi, nhận, xử lý. Người được giao giải quyết, theo dõi công việc của bệnh viện có trách nhiệm lập hồ sơ về công việc được giao và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan. Con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật của bệnh viện phải được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Hệ thống phải đáp ứng các quy định tại Phụ lục VI Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan”.

vanthu

Nội dung chính của công tác văn thư đó là việc soạn thảo, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản đi, đến; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; quản lý, sử dụng con dấu và thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư tại Bệnh viện.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 24 Tháng 6 2025 18:10

Đọc thêm...

You are here Tin tức